Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 10 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm) không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Tuân thủ thuế Việc tuân thủ thuế của người nộp thuế tại nước ta quy định ở các văn bản pháp lý theo Luật định, Nghị định, Thông tư, các văn bản hướng dẫn liên quan và được quy định tổng quát ở thời điểm hiện tại căn cứ vào Điều 7 của Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản Lý Thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 của Quốc Hội liên quan đến nghĩa vụ của người nộp thuế như sau: Điều 7. Nghĩa vụ của người nộp thuế 1.
Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định. Tuân thủ thuế là một thuật ngữ phức tạp để xác định. Đơn giản chỉ cần hiểu rằng tuân thủ thuế liên quan đến việc hoàn thành tất cả các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật một cách tự nguyện và đầy đủ. (Theo Marti (2000), trích bởi Nguy n Thị Mai, 2013) Theo Nguy n Thị Thanh Hoài (2011), tuân thủ thuế là việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế.
Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Theo chuẩn mực Châu u, thực thi nghĩa vụ thuế gồm bốn nội dung cơ bản: Đăng ký thuế (registration), Khai báo thuế ( iling o tax return), Điều chỉnh khai báo (correct declaration) và Nộp thuế (payment o tax due). Ngoài ra, tuân thủ thuế còn bao gồm: giữ sổ sách chứng từ, hạch toán theo chuẩn mực và chấp hành quyết định của cơ quan thuế. Không tuân thủ thuế Hành vi không tuân thủ thuế là hành vi trái với quy định tại Điều 7 của Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản Lý Thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 của Quốc Hội và trái với các nghị định, thông tư, các văn bản hướng dẫn liên quan.
Ba hình thức không tuân thủ thuế khác nhau: (1) Không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) Không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế; và (3) Giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng những khoản mi n giảm, loại trừ, hay khấu trừ. (Boidman (1983), Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Niên khóa 2011-2013, Chương 36 Cải thiện sự tuân thủ thuế) 12 c Tổng quát, không tuân thủ thuế có những hình thức biểu hiện sau: (1) Chậm hoặc không nộp tờ khai thuế. (2) Khai thu nhập không chính xác.(3) Khai khống các khoản được giảm trừ. (4) Không nộp thuế đầy đủ, đúng hạn.
Cá nhân cư trú Theo thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013, người nộp thuế là cá nhân cư trú phải đảm bảo một trong những điều kiện sau: - Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. - Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo 1 trong hai trường hợp sau: Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú: Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú. Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp. Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau: Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn nêu trên nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.
Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,. không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động. Như vậy, một cá nhân không phân biệt nguồn gốc quốc tịch nếu đáp ứng các điều kiện trên là đối tượng cư trú để xác định nghĩa vụ thuế tại Việt nam. Cá nhân kê khai thu nhập phát sinh tại Việt nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt nam.
Các nghiên cứu trước đây về lý thuyết Lý thuyết hành vi tuân thủ thuế theo chuẩn mực Châu u. Theo chuẩn mực Châu u, tuân thủ thuế là những hành vi thực thi nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân. Thực thi nghĩa vụ thuế gồm bốn nội dung cơ bản: Đăng ký thuế (registration), Khai báo thuế ( iling o tax return), Điều chỉnh khai báo (correct declaration) và Nộp thuế (payment o tax due). Ngoài ra, tuân thủ thuế còn bao gồm: giữ sổ sách chứng từ, hạch toán theo chuẩn mực và chấp hành quyết định của cơ quan thuế.
Ngược với tuân thủ là không tuân thủ thuế. Không tuân thủ thuế được hiểu đơn giản là tình trạng không đáp ứng những quy định về nghĩa vụ thuế, bất luận vô ý hay cố ý. Theo Hasseldine (1999), dù nhiều cơ quan thuế sử dụng những phương pháp, kỹ thuật khác nhau nhằm đo mức độ của các yếu tố tác động đến sự không tuân thủ thuế, nhưng tựu trung có hai nhóm yếu tố lớn là nhóm yếu tố xã hội và nhóm yếu tố cá nhân. Đồng thời có một kết luận rằng, mức độ tuân thủ thuế của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân, mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ những bối cảnh xã hội khác nhau.
Tổng quát, không tuân thủ thuế có những hình thức biểu hiện sau: (1) Chậm hoặc không nộp tờ khai thuế. (2) Khai thu nhập không chính xác. (3) Khai khống các khoản được giảm trừ. (4) Không nộp thuế đầy đủ, đúng hạn.
Đây là lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu. Theo Vương Thị Thu Hiền (2014) cho rằng một trong những mục tiêu của Chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành Thuế là ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế. Điều này, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn giúp cơ quan thuế nâng cao chất lượng phục vụ, hỗ trợ cho người nộp thuế và hạn chế sự gian lận thuế. Theo Lê Xuân Trường và Nguy n Đình Chiến (2013), cho rằng: (1) Hoàn thiện chính sách thuế nói chung và các văn bản pháp luật về thuế nói riêng đảm bảo có được hệ thống thuế thống nhất, phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu về nguồn thu ngân sách, yếu cầu quản lý kinh tế của Nhà nước, vừa phù hợp với khả năng đóng góp của các chủ thể trong nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh tăng trưởng tăng thu nhập của dân cư.
Đồng thời, hệ thống thuế phải đạt được các yêu cầu về công bằng, rõ ràng, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Nội dung 14 c này sẽ tác động trực tiếp làm giảm các áp lực về gánh nặng thuế để dẫn đến hành vi gian lận thuế, đồng thời ngăn chặn các cơ hội hay khả năng có thể gian lận thuế của nười nộp thuế, giảm chi phí quản lý, chi phí tuân thủ, từ đó góp phần nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật, hạn chế hành vi gian lận trong tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. (2) Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế; nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế kết hợp với hỗ trợ người nộp thuế trong tuân thủ pháp luật thuế: Đây được coi là nội dung tiền đề rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đi sâu vào giải quyết các nguyên nhân dẫn đến các hành vi gian lận thuế xuất phát từ yếu tố ý thức của người nộp thuế. Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, hạn chế các hành vi gian lận thuế thông qua việc giúp cho họ hiểu rõ các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm về thuế của mình theo quy định của pháp luật và hiểu rõ các quy định trong các văn bản pháp luật thuế cũng như cách xác định nghĩa vụ thuế để có thể thực hiện việc tuân thủ pháp luật thuế thuận lợi nhất.