Chương 1: Giới thiệu. 5 Chương 2: Khung lý thuyết về tuân thủ thuế thu nhập cá nhân. Chương 3: Thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chính Minh giai đoạn 2009 đến 2013. Chương 4: Thiết kế nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 6 Chương 2 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2.1 Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân 2.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân. Đây là một loại thuế phổ biến và giữ vị trí quan trọng bậc nhất cả về số thu lẫn tác động kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên Thế giới. Cơ sở tính của thuế này dựa vào thu nhập trong nước và ngoài nước của người cư trú hoặc thu nhập phát sinh nội địa của người không cư trú.
Theo định nghĩa Schanz-Haig-Simons (S-H-S), thu nhập của cá nhân biểu hiện ở mức gia tăng khả năng tiêu dùng ròng trong một thời kỳ. Về cấu phần, thu nhập gồm giá trị tiêu dùng và mức gia tăng tài sản. Thu nhập = Giá trị tiêu dùng + Mức gia tăng tài sản (Mức gia tăng tài sản biểu hiện một sự gia tăng tiêu dùng tiềm năng) Cụ thể, những thành phần cơ bản của thu nhập gồm: Tiền lương, tiền công, thù lao; Lợi nhuận kinh doanh cá thể; Tiền cho thuê; Tác quyền; Lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu;… Những thành phần khác cấu thành thu nhập theo định nghĩa S-H-S: Đóng góp của doanh nghiệp vào lương hưu của nhân viên; Đóng góp của doanh nghiệp cho bảo hiểm của nhân viên; Những khoản thanh toán chuyển giao: trợ cấp hưu trí, bồi thường thất nghiệp, trợ cấp trẻ em; Lời từ vốn (Capital gains); Hiện vật nhận được (hàng hóa, dịch vụ, cổ phần);… So với các loại thuế khác, thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau đây. Thuế thu nhập cá nhân ít gây biến dạng (distortion) trên thị trường hàng hóa thông thường do được trích xuất ngay từ khi phát sinh thu nhập, nhưng ảnh hưởng đến nghỉ ngơi và cung, cầu lao động.
Giả sử đơn giá lương cho một giờ làm việc là 100. Thuế suất bình quân của thuế thu nhập cá nhân là 20%. Như vậy, tiền lương sau thuế là 80. Đây là chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi.
7 Nếu thuế suất bình quân của thuế thu nhập lên đến 40% thì chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi rẻ đi sẽ thúc đẩy người lao động tiêu thụ mặt hàng nghỉ ngơi nhiều thêm. Điều này làm giảm cung lao động trên thị trường lao động, và có thể tác động lên mức đơn giá lương cân bằng trên thị trường này.1, ban đầu phân phối giờ trong một ngày ở điểm A (8 giờ làm, 16 giờ nghỉ). Khi chính phủ điều chỉnh thuế suất tăng lên, phân phối giờ trong một ngày chuyển lên B (6 giờ làm, 18 giờ nghỉ). Trên thị trường lao động, mức cung số giờ làm việc giảm từ H1 về H2 và thúc đẩy đơn giá lương từ W1 lên W2.
Cân bằng thị trường lao động chuyển từ điểm E1 lên thành điểm E2. Số giờ nghỉ 24 B 18 16 A Đường giới hạn thời gian Đơn giá Số giờ làm việc 6 8 24 lương SL2 SL1 E2 W2 W1 E1 DL H2 H1 Số giờ làm việc Hình 2.1: Tác động của thuế thu nhập cá nhân lên thị trường lao động Thuế thu nhập cá nhân sử dụng thuế suất lũy tiến (từng phần) 8 Hầu hết các quốc gia đều sử dụng thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập cá nhân do vận dụng quy luật độ hữu dụng biên (của thu nhập) giảm dần. Thậm chí, Mỹ còn sử dụng cả thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập công ty. Thuế suất lũy tiến là thuế suất ngày càng cao hơn đối với những phần thu nhập gia tăng.
Đồ thị thuế lũy tiến có hình dạng như hình 2. Số thuế nộp Thuế lũy tiến T4 T3 T2 T1 I1 I2 I3 I4 Thu nhập Hình 2.2: Đường biểu diễn thuế lũy tiến Gọi Ij = Ij – Ij-1 và Tj = Tj – Tj-1 Ta thấy tỉ số [ Tj/ Ij] ngày càng lớn hơn khi j lớn hơn. Cụ thể: T1 T2 Tn .3 cho chúng ta hình ảnh về các loại thuế: lũy tiến (progression), lũy thoái (regression) và tỉ lệ (proportion). 9 Số thuế nộp Thuế lũy Thuế tỷ lệ tiến Thuế lũy thoái Thu nhập Hình 2.3: Thuế lũy tiến, lũy thoái và tỷ lệ Thuế thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập của con người thực (human being) chứ không phải thực thể pháp lý (legal entity) nên độ “chệch” không đáng kể và rất khó chuyển (shifting).
Các sắc thuế hàng hóa, dịch vụ điều tiết thu nhập của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất tùy vào hệ số co giãn cầu theo giá. Thuế thu nhập cá nhân ảnh hưởng lên người có vốn (capitalist), người lao động (labourers) và người có quyền sử dụng đất (landlords) tùy theo cung-cầu vốn, cung-cầu lao động và cung-cầu quyền sử dụng đất. Do minh bạch, ít bị chệch trong điều tiết thu nhập và tính đến gia cảnh nên thuế thu nhập cá nhân có tính công bằng và “nhân văn” hơn so với các sắc thuế khác. Đây là một trong những đặc điểm khiến thuế thu nhập cá nhân trở thành cột trụ của hệ thống thuế ở các quốc gia.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Nhìn chung có ba cơ sở thuế (tax base) chính: mức tiêu dùng, thu nhập và bất động sản.
Từ đó mỗi nhà nước đều xây dựng ba nhóm thuế: nhóm thuế dựa trên nền tảng tiêu dùng gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu; nhóm thuế dựa trên nền tảng thu nhập gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập 10 cá nhân; và nhóm thuế dựa trên nền tảng giá trị bất động sản cá nhân (thuế tài sản). Mỗi nhóm thuế, loại thuế đều có vai trò riêng. Thuế thu nhập cá nhân có những vai trò như sau. - Mang lại số thu lớn.
Bằng chứng thực tế ở các đất nước phát triển hay đang phát triển cho thấy đây là loại thuế mang lại số thu lớn, thậm chí lớn nhất, của hệ thống thuế. Bảng 1 dưới đây cho thấy thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống thuế ở quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Bảng 2.1: Cơ cấu thuế các quốc gia OECD Đơn vị tính: % 1965 1975 1985 1995 2005 2010 Thuế thu nhập cá nhân 26 30 30 26 24 24 Thuế thu nhập công ty 9 8 8 8 10 9 Bảo hiểm xã hội 18 22 22 25 25 26 (người lao động) ( 6) ( 7) ( 7) ( 9) ( 9) ( 9) (người sử dụng lao động) ( 10) ( 14) ( 13) ( 14) ( 14) ( 15) Thuế lương (Payroll taxes) 1 1 1 1 1 1 Thuế tài sản (Property taxes) 8 6 5 5 6 5 Thuế tiêu dùng (General consumption taxes) 12 13 16 19 20 20 Thuế tiêu thụ đặc biệt (Specific consumption taxes) 24 18 16 13 11 11 Thuế khác 2 2 2 3 3 3 Tổng 100 100 100 100 100 100 Nguồn: OECD.org/ctp/taxpolicy/revenuestatisticstaxstructures.htm) Ở Việt Nam, những năm gần đây mặc dù số thu từ thuế thu nhập cá nhân chưa phải cao nhất nhưng tăng nhanh nhất trong sáu khoản thu lớn nhất và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thuế, phí và thu ngân sách. 11 - Thực thi công bằng xã hội. Không một loại thuế nào khấu trừ gia cảnh của người nộp thuế như thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân dựa trên thu nhập và gia cảnh của mỗi cá nhân cụ thể, nên nó không chung chung như các loại thuế tiêu dùng hay thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của thực thể pháp lý phi con người. Hai cá nhân có cùng một mức thu nhập chịu thuế, nhưng thu nhập tính thuế có thể khác nhau và nghĩa vụ thuế của từng cá nhân được xác định cụ thể tùy theo gia cảnh của cá nhân đó, nên mức thuế phản ánh được công bằng xã hội. - Hình thành tinh thần công dân. Trong thuế thu nhập cá nhân, mỗi cá nhân tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về những khai báo thu nhập của mình.
Cơ quan thuế chỉ kiểm tra tính xác thực của thông tin mà không khai báo thay người nộp thuế. Cơ quan thuế chỉ thanh tra hoặc điều tra khi có dấu hiệu gian lận. Như vậy, thuế này đòi hỏi tính tự giác rất cao của người nộp thuế nhằm tránh những phiền toái trong tương lai. Ngoài ra, thuế thu nhập cá nhân cũng hình thành nên tinh thần công dân nếu họ nhận thức được vai trò của mình khi đóng góp một phần thu nhập để tạo ra công trình phúc lợi công cộng.
Đồng thời, mỗi công dân cũng có quyền đòi hỏi chính phủ giải trình việc sử dụng thuế do họ đóng góp.2 Tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 2.1 Lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng Nội dung cơ bản của lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng (responsive regulation theory) được tóm tắt qua hai phát biểu như sau1. Một là phát biểu của Ayres and Braithwaite (1992): “The basic idea of responsive regulation is that regulatory agencies should be “responsive to the conduct of those they seek to regulate and law enforces should be responsible to how effectively citizen are regulating 1 Marhaini Mahmood, 2012. Compliance Risk Management Strategies For Malaysian Tax Administration. ATTA Conference, University of Sydney, 16-18 January 2012.
12 themselves before they intervene””. Hai là phát biểu của Braithwaite (2007): “Responsive regulation is a process that “confidently and openly engages regulatees”to think about their obligations and accept responsibility for regulating themselves in a manner that is consistent with the law” (Tác giả tạm dịch: điều chỉnh theo phản ứng là quá trình tạo điều kiện cho người chịu quản lý tự tin và thẳng thắn thay đổi hành vi bản thân phù hợp với luật pháp). Như vậy, lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng có hai đại ý gắn chặt với nhau. Ý thứ nhất, cơ quan quản lý (người điều chỉnh) phải nhận diện, tổng hợp và đánh giá được những nhân tố tác động đến hành vi của người chịu quản lý.
Ý thứ hai, cơ quan quản lý cần đưa ra những ứng xử phù hợp với hành vi của người chịu quản lý để chính người này chủ động và tự tin tuân thủ theo quy định của pháp luật. Lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như giao thông, giáo dục, y tế,…. Trong lĩnh vực thuế, nó được V. Braithwaite nghiên cứu vận dụng năm 2003 vào hoạt động quản trị rủi ro tuân thủ tại Tổng Cục Thuế Úc (Australian Taxation Office, ATO) với một trong những nội dung chính là Tháp Tuân thủ (Compliance Pyramid).