CHƯƠNG 1: TONG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE Ý ĐỊNH SỬ DUNG Vi ĐIỆN TỬ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu về Hành vi sử dụng các hình thức thanh toán trực tuyến Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện về ý định sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hay thanh toán trực tuyến. Dé có thé làm rõ hơn hàm nghĩa khoa học về ý định sử dụng dịch vụ thì mỗi bài nghiên cứu đều phải xây dựng được một mô hình nghiên cứu, và lý thuyết về hành vi được ra đời nhằm phục vụ các bài nghiên cứu sau này.
Một số mô hình lý thuyết hành vi phổ biến được các nhà khoa học phát triển dé phục vụ xây dựng mô hình nghiên cứu của các đề tài liên quan như Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein (1975), Ly thuyét về hành vi có kế hoạch (TPB) của AJzen (1991), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989), Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003). Các mô hình trên được ứng dụng rộng rãi và dẫn đến nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau. Dựa trên các mô hình nghiên cứu được phát triển, các đề tài nghiên cứu về hành vi sử dụng công nghệ hay cụ thể hơn là các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ứng dụng dé xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp tuỳ từng đề tài. Cu thể, nghiên cứu ứng dụng mô hình chấp nhận công nghệ TAM của Suh và Han (2003) cho rằng Tính dễ sử dụng và Tính hữu ích được coi là hai nhân tố quan trọng trong việc xác định sự chấp nhận của nhiều công nghệ khác nhau.
Bên cạnh đó, sự tin tưởng của khách hàng cũng có ảnh hưởng đến việc chấp nhận thanh toán trực tuyến qua ngân hàng (Internet banking). Kết quả phân tích thống kê cho thấy Tính hữu dụng, Tính dễ sử dụng, Sự tin tưởng của khách hàng ảnh hưởng đáng kể đến việc chấp nhận Internet banking. Tuy nhiên các nhân tố này có thể không giải thích đầy đủ hành vi của người dùng với một loại hình dịch vụ mới phát triển cụ thể là Internet banking lúc bấy giờ. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tâm (2021) và Nguyễn Hồng Quân (2021) cũng cho rang Tinh dé sử dụng và Tính hữu ích có tác 12 động tích cực đến Ý định hành vi sử dụng của khách hàng.
Tuy nhiên vì kết hợp ứng dụng hai mô hình Thuyết hành vi kế hoạch TPB và Mô hình chấp nhận công nghệ TAM nên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Tâm chỉ ra được Kiểm soát hành vi cảm nhận, Chuẩn chủ quan và Thái độ của khách hàng có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ Internet banking, cụ thể là của Ngân hàng Sacombank. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn hạn chế ở số mẫu chưa có tính đại điện cao; do sự không có sẵn của nguồn dữ liệu thứ cấp nên một số van đề chưa được phân tích sâu sắc trong quá trình nghiên cứu. Còn đối với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quân (2021) sau khi đã bổ sung thêm 2 biến Chính sách hỗ trợ và Tính phổ biến, kết qua hồi quy cho thấy mức độ tác động của hai biến mới là Chính sách hỗ trợ và Tính phổ biến có hệ số tương quan hồi quy lớn hơn nhiều so với Tính hữu ích và Tính dé sử dụng. Điều này cho thấy yếu tố liên quan đến chính sách trong thanh toán trực tuyến và sự tín nhiệm của cộng đồng xã hội với Thanh toán điện tử ở Việt Nam là yếu tố then chốt, có tác động tích cực và trực tiếp lên hành vi thực tế của người tiêu dùng tại các sàn Thương mại điện tử.
Bài nghiên cứu đã cung cấp thêm một bằng chứng nữa về mối liên hệ giữa các nhân tố của thanh toán điện tử tác động tới hành vi mua của người tiêu dùng dưới ý định mua hang và chấp nhận chi trả đơn hàng. Wang và Yi (2012) đã thêm hai biến có liên quan (Bối cảnh sử dụng va Rui ro nhận thức) dé khám phá những tác động đối với việc sử dụng thanh toán di động dựa trên mô hình UTAUT. Kết quả nghiên cứu nhận thấy rằng 2 yếu tố Hiệu quả kỳ vọng và Nỗ lực kỳ vọng đem lại ảnh hưởng nhất đến ý định sử dụng các phương thức thanh toán di động của người tiêu dùng. Tuy nhiên lại không có mối quan hệ đáng ké nào giữa Nhận thức rủi ro và Ảnh hưởng xã hội đến Ý định hành vi cũng như không có ảnh hưởng đáng ké của các điều kiện thuận lợi đối với hang vi người dùng.
Bằng việc ứng dụng mô hình UTAUT, Hoàng Hà (2019) cũng đã phát triển khung nghiên cứu các yếu tô tác động đến hành vi sử dụng Ngân hang di động thông qua việc mở rộng mô hình bang cách bé sung 2 yếu tố Cảm nhận rủi ro và Tính tin cậy. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các biến Điều kiện thuận lợi, Hiệu quả kỳ vọng và Tính tin cậy lần lượt tác động mạnh mẽ đến hành vi sử dụng Mobile 13 Banking của người tiêu dùng, giải thích được khoảng 43% quyết định sử dụng ứng dụng Ngân hàng số của khách hàng. Tương tự với kết quả nghiên cứu của Wang và Yi, hai nhóm yếu tô Rui ro và Anh hưởng xã hội không có tác động đến Y định hành vi, bi loại bỏ khỏi mô hình do nhận thấy có hiện tượng tự tương quan. Đây cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng cho các công trình trong tương lai.
Nghiên cứu về Hành vi sử dụng ví điện tử Một số nghiên cứu với kết quả nồi bật có thé tham khảo như nghiên cứu của Nguyễn Thị Linh Phương (2013) dựa trên mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận sử dụng công nghệ UTAUT, ngoài 4 nhân tố trong mô hình (hiệu quả kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi) thì tác giả bổ sung thêm 4 nhân tố vào dé xem xét tương quan va mức độ tác động đến ý định sử dụng Ví điện tử bao gồm 3 nhân tố từ kết quả nghiên cứu lý thuyết: Tin cậy cảm nhận, Chi phí cảm nhận, Hỗ trợ Chính phủ và 1 nhân tố mới từ kết quả phỏng vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực Ví điện tử: Cộng đồng người dùng, đây được coi là nhân tổ mang tính đối mới và sáng tao cao so với các nghiên cứu đi trước. Nghiên cứu có một số hạn chế, bao gồm việc sử dụng mẫu khá hẹp về đối tượng tham gia, không có sự phân tích về tầm quan trọng của từng nhân tố đối với ý định sử dụng, và chưa phân tích rõ ràng về mối tương quan giữa các nhân tô. Madan và Yadav (2016) cũng ứng dụng Thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT đã xác định 7 yếu tố tích cực ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của khách hàng: Hiệu quả mong đợi, Ảnh hưởng xã hội, Điều kiện thuận lợi, Giá trị cảm nhận, Niềm tin, Hỗ trợ hệ thống và Khuyến mãi. Khác với Nguyễn Thị Linh Phương bằng việc bổ sung yếu tố Cộng đồng người dùng, công trình nghiên cứu của Madan và Yadav đã bé sung thêm một khía cạnh mới trong đánh giá áp dụng công nghệ bằng cách đề xuất hai biến số mới: Hỗ trợ hệ thống và Khuyến mãi.
Nghiên cứu của Madan và Yadav là bài nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực Ví điện tử ở Ấn Độ, tuy nhiên nghiên cứu có hạn chế là kích thước mẫu nhỏ, khả năng bao gôm các biên mới và sáng tạo hơn như Tính đôi mới cá nhân 14 (Personal innovativeness) chưa được đề cập đến. Nghiên cứu của Trần Nhật Tân (2018) cũng ứng dụng UTAUT để chỉ ra 7 nhân tố tác động đến ý định sử dụng Ví điện tử Moca tương tự như các nghiên cứu đi trước. Theo đó kết quả chỉ ra Ảnh hưởng xã hội có tác động mạnh mẽ nhất đến ý định, kế đến là Động lực thụ hưởng. Tuy nhiên nghiên cứu của tác giả còn hạn chế về mặt thời gian và kinh phí nên số lượng mẫu ít, khả năng tổng quát chưa cao.
Nghiên cứu của Tsai và Liang (2018) tập trung vào việc đo lường ý định sử dụng ví điện tử của người dùng. Kết quả cho thấy răng, những yếu tổ như tính tiện lợi, độ an toàn, độ tin cậy và chi phí ảnh hưởng đáng kế đến ý định sử dụng ví điện tử của người dùng. Trong đó, nhân tổ Chương trình khuyến mãi được xác định là yếu t6 tác động mạnh mẽ nhất đến ý định sử dụng ví điện tử, có giá trị tương tự với nhân tố Động lực thụ hưởng trong nghiên cứu của Trần Nhật Tân, từ đó có thể xem xét đây là một nhân t6 quan trong tác động đến ý định sử dung ví điện tử. Bên cạnh đó, các yêu tố đặc tính cá nhân của người dùng cũng có tác động đáng ké đến ý định sử dụng ví điện tử.
Nghiên cứu tập trung vào việc do lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử, tuy nhiên, không có các yếu tố mới lạ hay tiên tiến hơn dé mô ta và đánh giá xu hướng sử dụng ví điện tử trong tương lai. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương và cộng sự (2021) đã trình bày tổng quan lý thuyết về Ví điện tử, ý định sử dụng Ví và các nhân tố có ảnh hưởng đến ý định này. Ứng dụng Lý thuyết về hành vi có kế hoạch TPB cho ra kết quả nghiên cứu nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến Ý định sử dụng ví điện tử là Niềm tin người dùng, kế đến là Khả năng đổi mới sáng tạo cá nhân trong lĩnh vực Công nghệ thông tin. Ở biến mới được bồ sung thêm là Khả năng đổi mới sáng tao cá nhân đã khắc phục được hạn chế đi trước của Madan và Yadav (2016).
Tuy nhiên, các tác giả của công trình nghiên cứu cũng thừa nhận sự chênh lệch của bộ mẫu với đa số người tham gia khảo sát từ miền Bắc có thé ảnh hưởng nếu suy rộng kết quả nghiên cứu ra toàn Việt Nam do sự khác biệt về văn hoá, suy nghĩ,. Ngoai ra, có thể còn các nhân tố khác tác động đến Ý định sử dụng ví điện tử chưa được đề cập đến 15 trong nghiên cứu này nên các nghiên cứu trong tương lai có thể khắc phục để kết quả nghiên cứu có ý nghĩa sâu rộng hơn.