Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thanh toán là khâu cốt lõi trong hoạt động lưu thông hàng hóa và vận hành kinh tế. Trải qua các giai đoạn tiến hóa từ hình thức trao đổi hàng đổi hàng, sử dụng vật ngang giá sơ khai (như vỏ sò, răng cá mập, lông chim) cho đến sự xác lập của tiền mặt (tiền kim loại và tiền giấy), phương thức thanh toán luôn biến đổi nhằm tối ưu hóa chi phí và tốc độ giao dịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng tiền mặt dần bộc lộ nhiều hạn chế lớn như chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm và rủi ro mất mát, trộm cắp. Ngược lại, thanh toán không sử dụng tiền mặt (TTKSDTM) giúp đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm nguồn lực xã hội và tăng cường tính minh bạch của nền kinh tế. Đặc biệt, tại thời điểm đầu năm 2020 khi đại dịch Covid-19 bùng phát toàn cầu, tiền mặt bị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo là vật trung gian tiềm ẩn nguy cơ lây truyền virus, khiến nhu cầu chuyển dịch sang các phương thức thanh toán không tiếp xúc trở nên cấp thiết.
Tại Việt Nam, dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều chủ trương thúc đẩy thanh toán điện tử, tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong dân cư vẫn ở mức cao so với khu vực và thế giới. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Linh Đan (chuyên ngành Ngân hàng, Học viện Ngân hàng) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng hoạt động thanh toán này trong giai đoạn 2017–2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là phân tích thực trạng phát triển TTKSDTM tại Việt Nam qua giai đoạn 2017–2019, chỉ ra các kết quả đạt được, những điểm hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp cùng kiến nghị nhằm thúc đẩy TTKSDTM trong các năm tiếp theo. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:
- Làm rõ khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay.
- Đề ra giải pháp phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam trong các năm tới.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các giải pháp phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam. Về phạm vi không gian, đề tài khảo sát thị trường thanh toán nội địa Việt Nam, tập trung vào hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCƯDVTT) phi ngân hàng, kết hợp khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận. Về phạm vi thời gian, các dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2017–2019, định hướng giải pháp được xác định đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận tiền tệ và thanh toán hiện đại. Tác giả trích dẫn các quan điểm học thuật tiêu biểu: quan điểm của Đặng Công Hoàn (2015) xác định TTKSDTM là hoạt động dịch vụ thanh toán thông qua việc bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức của bên trả sang tài khoản bên thụ hưởng qua đơn vị cung ứng dịch vụ; quan điểm của Lê Đình Hạc (2020) nhấn mạnh việc sử dụng các công cụ, giấy tờ có giá phi tiền mặt thông qua các tổ chức tín dụng. Khái niệm "phát triển TTKSDTM" được xây dựng dựa trên phạm trù triết học về sự phát triển: không chỉ mở rộng về lượng (quy mô người dùng, số món giao dịch, doanh số, mạng lưới điểm chấp nhận) mà còn biến đổi về chất (tính chính xác, tốc độ xử lý, an toàn bảo mật và sự đa dạng hóa sản phẩm).
Khóa luận phân loại các phương thức thanh toán thành hai nhóm chính:
- Phương thức truyền thống: Séc, Ủy nhiệm chi (UNC), Ủy nhiệm thu (UNT), Thư tín dụng (L/C), Thẻ thanh toán (gồm thẻ ghi nợ - debit card, thẻ trả trước định danh/vô danh - prepaid card, thẻ tín dụng - credit card).
- Phương thức hiện đại: Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Online banking gồm Internet banking và Mobile banking), Ví điện tử (theo định nghĩa tại Nghị định 10/VBHN-NHNN), Thanh toán qua mã phản hồi nhanh (QR Code với các ma trận điểm từ kích thước 33x33 đến 177x177 ô vuông), Công nghệ giao tiếp trường gần (NFC - Near Field Communication sử dụng tần số RFID 13,56 MHz trong khoảng cách dưới 2 inch).
Hệ thống đánh giá phát triển TTKSDTM được thiết lập theo hai nhóm tiêu chí:
- Nhóm tiêu chí định lượng: Tốc độ tăng trưởng số lượng người dùng; Tốc độ tăng trưởng số món giao dịch; Doanh số giao dịch; Doanh thu phí dịch vụ thanh toán của các TCCƯDVTT; Tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán; Số lượng tài khoản/1.000 người trưởng thành (theo chuẩn Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF); Số lượng máy ATM/100.000 người trưởng thành (theo chuẩn IMF).
- Nhóm tiêu chí định tính: Tần suất giao dịch; Mức độ đa dạng phương thức; Chất lượng dịch vụ (thời gian xử lý, tính chính xác, quy trình thủ tục, chăm sóc khách hàng); Khả năng đáp ứng nhu cầu (tính nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, bảo mật thông tin); Mức độ gia tăng uy tín, thương hiệu của đơn vị cung ứng.
Khóa luận vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật: phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp; so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, hệ thống hóa và quy nạp. Về mặt dữ liệu thực nghiệm, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả dựa trên dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Báo cáo tài chính các NHTM, dữ liệu tài chính IMF (IMF Data 2020), Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2019 (Bộ Công thương) và Báo cáo Global Digital 2019. Đồng thời, khóa luận triển khai phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu n = 208 người dân đang sinh sống, làm việc tại khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận nhằm đo lường nhận thức, tần suất sử dụng và các rào cản thực tế khi thanh toán không tiền mặt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt
Chương 1 mở đầu bằng phần tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nghiên cứu quốc tế được lược khảo gồm: Robinson O. Ugwoke và cộng sự (2019) nghiên cứu chính sách không dùng tiền mặt tại Nigeria (sử dụng khảo sát 204 nhân viên ngân hàng, phân tích tương quan trên phần mềm SPSS 10, chỉ ra việc giảm 32% lượng tiền mặt tại khu vực đô thị); Beata Świecka và Simon Grima (2019) khảo sát 1.005 người tiêu dùng Ba Lan để phân tích nguyên nhân tiền mặt vẫn duy trì vị thế thống trị; Dennis Ng (2018) nghiên cứu kinh nghiệm thanh toán số từ mô hình WeChat của Trung Quốc áp dụng vào Singapore; Hock-Han Tee và Hway Boon Ong (2016) sử dụng mô hình VCEM phân tích dữ liệu bảng giai đoạn 2000–2012 tại 5 quốc gia châu Âu (Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha).
Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả phân tích các công trình của Đoàn Anh Khoa (2016 tại TP.HCM), Đặng Công Hoàn (2015 tại ĐH Kinh tế - ĐHQGHN, sử dụng mô hình hồi quy hai biến chuỗi thời gian kết hợp khảo sát 400 người), Đỗ Thị Lan Phương (2014) và Trịnh Thanh Huyền (2012 tại Học viện Tài chính). Từ tổng quan, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước chủ yếu tập trung vào dịch vụ thanh toán truyền thống qua kênh NHTM, chưa đi sâu vào các hình thức thanh toán số mới nổi do các trung gian thanh toán phi ngân hàng cung cấp như ví điện tử, mã QR và công nghệ NFC.
Tiếp đó, chương 1 chuẩn hóa các khái niệm, phân tích 3 đặc điểm bản chất của TTKSDTM (sự tách biệt không gian - thời gian giữa luồng hàng hóa và tiền tệ; tiền tệ tồn tại dưới dạng tiền ghi sổ/tiền kế toán; bắt buộc vận hành qua trung gian tài chính), làm rõ vai trò đối với nền kinh tế, Nhà nước, NHTM và người tiêu dùng. Chương này cũng phân tích quy trình vận hành của các công cụ thanh toán (séc, UNC, UNT, thẻ, ngân hàng số, ví điện tử) kèm sơ đồ quy trình, đồng thời hệ thống hóa các nhân tố chi phối thuộc môi trường vĩ mô (kinh tế - xã hội, pháp lý, tác động từ dịch bệnh), năng lực công nghệ của TCCƯDVTT và nhân tố từ phía người sử dụng (trình độ chuyên môn của nhân sự, tâm lý chuộng tiền mặt, quy mô thu nhập).
Chương 2: Thực trạng phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam
Chương 2 mô tả cơ cấu hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam. Về lịch sử, hệ thống tín dụng khởi nguồn từ Ngân hàng Đông Dương (thành lập năm 1875), sau đó Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1951 theo Sắc lệnh số 15/LCT, đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1961 và chính thức chuyển từ mô hình một cấp sang hai cấp vào tháng 4/1988. Tính đến ngày 31/12/2019, mạng lưới NHTM gồm 4 NHTM Nhà nước (Agribank, GP Bank, OceanBank, Construction Bank), 31 NHTM cổ phần, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 2 ngân hàng liên doanh (IVB, VRB). Về khối phi ngân hàng, tính đến ngày 20/4/2020 đã có 33 tổ chức được NHNN cấp phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (tiêu biểu như M_Service với ví MoMo có hơn 13 triệu người dùng, Ví FPT, VNPT Pay) căn cứ theo khung pháp lý từ Thông tư 39/2014/TT-NHNN và Thông tư sửa đổi 23/2019/TT-NHNN.
Bảng tổng hợp năng lực tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam được ghi nhận trong nghiên cứu:
| Nhóm ngân hàng |
Tổng tài sản 2017 (Tỷ đồng) |
Tổng tài sản 2018 (Tỷ đồng) |
Tăng trưởng tài sản (%) |
Vốn chủ sở hữu 2017 (Tỷ đồng) |
Vốn chủ sở hữu 2018 (Tỷ đồng) |
Tăng trưởng VCSH (%) |
| NHTM Nhà nước |
4.599.000 |
4.851.945 |
5,5 |
278.000 |
291.900 |
5,0 |
| NHTM Cổ phần |
4.183.000 |
4.869.012 |
16,4 |
332.000 |
385.120 |
16,0 |
| NHTM Liên doanh, nước ngoài |
954.864 |
1.096.183 |
14,8 |
134.000 |
150.080 |
12,0 |
| Toàn hệ thống |
10.000.000 |
11.060.000 |
10,6 |
714.000 |
806.100 |
12,9 |
(Nguồn: Số liệu trích từ Báo cáo thường niên NHNN 2018 được tác giả tổng hợp trong Bảng 2.1)
Khóa luận phân tích chi tiết thực trạng qua hệ thống số liệu định lượng giai đoạn 2017–2019:
- Tài khoản và tiền gửi cá nhân: Số lượng tài khoản tiền gửi thanh toán không kỳ hạn của cá nhân duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 12%/năm, từ mức xấp xỉ 70 triệu tài khoản giai đoạn đầu 2017 lên gần 80 triệu (cuối 2018) và đạt khoảng 90 triệu tài khoản vào cuối năm 2019. Số dư tiền gửi cá nhân tăng mạnh từ mức 325.516 tỷ đồng (quý IV/2017) vượt qua mốc 400.000 tỷ đồng (quý I/2019) và chạm mốc hơn 500.000 tỷ đồng vào quý IV/2019.
- Thẻ thanh toán và hạ tầng chấp nhận thẻ: Số lượng thẻ phát hành lũy kế tăng trưởng bình quân 16%/năm (khoảng 5 triệu thẻ mới mỗi quý). Tuy vậy, theo số liệu của World Bank năm 2017, có tới 90% lượng thẻ tại Việt Nam là thẻ ghi nợ nội địa, trong khi tỷ lệ sở hữu thẻ tín dụng còn thấp (chỉ một số ít người trưởng thành sở hữu so với mức 98% tại Thụy Điển, Hà Lan hay 72% tại Mỹ). Số lượng máy ATM tăng từ khoảng 17.000 máy (quý I/2017) lên trên 19.000 máy (cuối năm 2019, tăng 4–5%/năm). Mạng lưới POS đạt mức đỉnh trên 294.000 máy vào cuối quý III/2018, sau đó sụt giảm về mức 240.000 máy vào cuối năm 2018 do sự cạnh tranh trực tiếp từ các giải pháp thanh toán mã QR không đòi hỏi chi phí đầu tư thiết bị POS.
- Hạ tầng viễn thông và thanh toán số: Tỷ lệ người dùng Internet tăng từ 64% dân số (2017) lên 70% dân số vào năm 2019 (tương đương 68,17 triệu người); thuê bao điện thoại thông minh tăng trưởng bình quân 10%/năm. Số lượng ví điện tử xác thực đạt 4,24 triệu ví vào cuối năm 2018 và toàn thị trường có hơn 10.000 điểm chấp nhận thanh toán ví điện tử.
- Quy mô và cơ cấu giao dịch: Giao dịch qua UNC chiếm vị trí áp đảo tuyệt đối về doanh số trong nền kinh tế, đạt giá trị trên 36.000 nghìn tỷ đồng trong quý IV/2019 (+65,84% so với cùng kỳ 2018). Ngược lại, giao dịch bằng séc sụt giảm liên tục (quý III/2019 giảm sâu 81,33% về số lượng món); giao dịch UNT giảm 87,29% vào quý IV/2018. Giao dịch qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng năm 2019 tăng 17,2% về số lượng món và tăng 35,13% về giá trị. Riêng kênh thanh toán qua điện thoại di động năm 2018 tăng trưởng 41% về số lượng món và 169% về doanh số giao dịch so với năm 2017.
- Doanh thu dịch vụ thanh toán của NHTM: Tăng trưởng liên tục ở mức hai con số. Điển hình tại TPBank, doanh thu dịch vụ thanh toán tăng từ 125.677 triệu đồng (2017) lên 268.234 triệu đồng (2018, tăng 113%) và tiếp tục tăng 56,65% trong năm 2019. VPBank đạt mức tăng doanh thu thanh toán 67,74% (2018) và 53,47% (2019), trong khi Vietcombank duy trì mức tăng trưởng doanh thu dịch vụ trên 30% mỗi năm.
- Tỷ trọng tiền mặt và so sánh quốc tế theo chỉ tiêu IMF: Tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ mức trên 12,4% các năm trước xuống giữ quanh ngưỡng gần 12% trong giai đoạn 2017–2019 (vẫn cao hơn mức 0,7% của Thụy Điển, 1% của Na Uy và 10% của Trung Quốc). Số lượng tài khoản/1.000 người trưởng thành tăng từ 844,02 (2015) lên 1.086,88 tài khoản (2018), vượt mốc trung bình mỗi người trưởng thành có 1 tài khoản. Tuy nhiên, mật độ máy ATM/100.000 người trưởng thành chỉ đạt hơn 25 máy vào năm 2018, thấp hơn mức trung bình thế giới (hơn 40 máy) và tụt hậu so với Philippines (gần 30 máy).
Về nghiên cứu định tính, tác giả khảo sát 208 người dân tại Hà Nội và các vùng lân cận để đánh giá tần suất sử dụng, nhận thức rủi ro và các yếu tố ảnh hưởng. Đánh giá tổng hợp cho thấy TTKSDTM đạt kết quả tích cực về mở rộng tài khoản, hạ tầng công nghệ và doanh thu, nhưng còn tồn tại các hạn chế: thói quen dùng tiền mặt ăn sâu vào tiềm thức, hạ tầng kỹ thuật phân bố không đồng đều (tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn), cơ cấu thẻ nghiêng lệch về thẻ ghi nợ nội địa để rút tiền mặt thay vì thanh toán, và các lo ngại về an ninh dữ liệu.
Chương 3: Giải pháp phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam
Chương 3 trình bày các định hướng phát triển TTKSDTM đến năm 2030 và đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo đến người tiêu dùng: Phổ biến kiến thức tài chính, tiện ích và mức độ an toàn của TTKSDTM; triển khai các chương trình khuyến mại, miễn giảm phí dịch vụ để kích thích thay đổi thói quen thanh toán truyền thống.
- Phát triển các dịch vụ TTKSDTM phù hợp với điều kiện nông thôn: Thiết kế sản phẩm thanh toán trên điện thoại cơ bản, mở rộng mạng lưới đại lý thanh toán lưu động, điểm giao dịch vi mô tại vùng sâu, vùng xa, khu vực nông nghiệp nông thôn nơi khó tiếp cận chi nhánh ngân hàng.
- Mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ và nâng cao tiện ích: Tích hợp thanh toán số vào các dịch vụ công (y tế, giáo dục, thuế, hóa đơn điện nước), mở rộng liên kết giữa ngân hàng và các đơn vị chấp nhận thanh toán, chuẩn hóa chuẩn kết nối thanh toán qua mã QR chung (VietQR), đồng thời nâng cấp hệ thống an ninh mạng để bảo vệ tài khoản khách hàng.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên: Tăng cường đào tạo chuyên môn về công nghệ tài chính, kỹ năng giải quyết khiếu nại và bảo mật thông tin cho cán bộ ngành ngân hàng và các tổ chức trung gian thanh toán.
Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý hoạt động trung gian thanh toán, thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) cho các mô hình công nghệ tài chính mới, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ giữa các hệ thống và có chính sách thuế, phí ưu đãi đối với các đơn vị kinh doanh chấp nhận thanh toán không tiền mặt.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp hệ thống số liệu định lượng phản ánh tiến trình dịch chuyển thanh toán tại Việt Nam giai đoạn 2017–2019:
| Chỉ tiêu thống kê |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Số tài khoản tiền gửi thanh toán cá nhân |
~70 triệu tài khoản |
~80 triệu tài khoản |
~90 triệu tài khoản |
| Số dư tiền gửi thanh toán cá nhân |
325.516 tỷ đồng (quý IV) |
>400.000 tỷ đồng (đầu 2019) |
>500.000 tỷ đồng (quý IV) |
| Số lượng máy ATM trên cả nước |
~17.000 máy |
~18.500 máy |
>19.000 máy |
| Số lượng máy POS trên cả nước |
~270.000 máy |
Đỉnh 294.000 máy (Q3) -> 240.000 máy (Q4) |
Phục hồi chậm quanh mốc >240.000 máy |
| Tỷ lệ dân số sử dụng Internet |
64% |
67% |
70% (68,17 triệu người) |
| Số lượng ví điện tử kích hoạt/xác thực |
- |
4,24 triệu ví (riêng MoMo đạt 13 triệu năm 2019) |
Ước tính tiến tới 10 triệu ví (2020) |
| Tỷ trọng tiền mặt/tổng phương tiện TT |
~12% |
~12% |
~12% (giảm so với mức >12,4% trước 2017) |
| Số tài khoản/1.000 người trưởng thành (IMF) |
980,5 tài khoản |
1.086,88 tài khoản |
- |
| Số máy ATM/100.000 người trưởng thành (IMF) |
24,5 máy |
>25 máy |
- |
(Nguồn: Dữ liệu trích lục từ nội dung và danh mục bảng/biểu đồ chương 2 của khóa luận)
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách bổ sung mảng dữ liệu về các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phi ngân hàng (fintech) và các phương thức thanh toán công nghệ cao (ví điện tử, QR Code, NFC) – các khía cạnh vốn chưa được các nghiên cứu trong nước trước đó phân tích đầy đủ. Đề tài cũng hệ thống hóa các đề xuất giải pháp có tính phân tầng rõ rệt: hướng trọng tâm vào thị trường nông thôn, mở rộng tiện ích số hóa dịch vụ công và hoàn thiện khung pháp lý quản lý trung gian thanh toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:
- Dữ liệu khảo sát định tính có cỡ mẫu còn nhỏ (n = 208 phiếu hỏi) và phạm vi địa lý chỉ giới hạn tại Hà Nội cùng một số tỉnh lân cận, do đó tính đại diện cho hành vi tiêu dùng tại khu vực miền Trung, miền Nam và đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi còn hạn chế.
- Khung thời gian dữ liệu chuỗi thứ cấp dừng lại ở mốc cuối năm 2019 và các tháng đầu năm 2020, chưa phản ánh toàn diện các biến động cấu trúc thanh toán diễn ra trong giai đoạn dịch Covid-19 kéo dài sau đó.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài mở ra triển vọng mở rộng địa bàn điều tra khảo sát trên phạm vi toàn quốc với cơ cấu mẫu đa dạng hơn theo các nhóm thu nhập và vùng địa lý; đồng thời, các nghiên cứu tiếp theo có thể ứng dụng mô hình định lượng chuyên sâu (như SEM hoặc hồi quy đa biến) để đo lường mức độ tác động của cơ chế sandbox và công nghệ thanh toán mới đối với quyết định chấp nhận thanh toán của các đơn vị bán lẻ.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển, Hệ thống thông tin quản lý và Thương mại điện tử.
Nội dung khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực ở hệ thống hóa lý luận về các công cụ thanh toán mới (ví điện tử, NFC, QR Code), bộ số liệu thứ cấp giai đoạn 2017–2019 được thu thập từ các nguồn chính thống (NHNN, IMF, Bộ Công thương), cùng mẫu khung câu hỏi khảo sát thực tế hành vi thanh toán trong dân cư. Đối với các NHTM và tổ chức trung gian thanh toán, các phân tích về sự suy giảm của máy POS trước sự xuất hiện của mã QR và thói quen sử dụng thẻ ghi nợ nội địa cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm thanh toán bán lẻ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân loại hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam như thế nào?
Tính đến ngày 31/12/2019, hệ thống NHTM gồm 4 NHTM Nhà nước (Agribank, GP Bank, OceanBank, Construction Bank), 31 NHTM cổ phần, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 2 ngân hàng liên doanh (Indovina Bank và Vietnam - Russia Joint Venture Bank). Bên cạnh đó, tính đến ngày 20/4/2020 có 33 tổ chức phi ngân hàng được NHNN cấp phép hoạt động dịch vụ trung gian thanh toán, tiêu biểu là M_Service (ví MoMo), Ví FPT và VNPT Pay.
2. Diễn biến số lượng máy POS tại Việt Nam trong năm 2018 có biến động gì bất thường và nguyên nhân do đâu?
Số lượng máy POS tăng trưởng đều đặn và đạt đỉnh hơn 294.000 máy vào cuối quý III/2018, nhưng sang quý IV/2018 đã đột ngột giảm mạnh xuống chỉ còn 240.000 máy. Nguyên nhân do thị trường du nhập các phương thức thanh toán mới như mã QR và NFC; các đơn vị chấp nhận thanh toán chuyển hướng sang sử dụng mã QR vì không bị tính các mức phí duy trì và lắp đặt thiết bị máy móc như máy POS truyền thống.
3. So với chuẩn mực quốc tế theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các chỉ tiêu thanh toán của Việt Nam đạt mức nào?
Năm 2018, số lượng tài khoản ngân hàng trên 1.000 người trưởng thành của Việt Nam đạt 1.086,88 tài khoản (cải thiện từ mức 844,02 năm 2015), vượt ngưỡng trung bình 1 người/1 tài khoản nhưng vẫn thấp xa mức 2.000–7.000 tài khoản tại các quốc gia phát triển. Về mạng lưới ATM, Việt Nam chỉ đạt hơn 25 máy/100.000 người trưởng thành, thấp hơn mức bình quân thế giới (hơn 40 máy) và thấp hơn Philippines (gần 30 máy).
4. Khóa luận ghi nhận doanh thu từ dịch vụ thanh toán tại các ngân hàng thương mại tăng trưởng ra sao trong giai đoạn 2017–2019?
Doanh thu dịch vụ thanh toán tại các NHTM đều duy trì mức tăng trưởng hai con số. Trong đó, TPBank tăng trưởng doanh thu thanh toán 113% năm 2018 (đạt 268.234 triệu đồng) và tăng 56,65% năm 2019; VPBank tăng trưởng 67,74% năm 2018 và 53,47% năm 2019; Vietcombank luôn duy trì mức tăng trưởng doanh thu thanh toán trên 30% mỗi năm.
5. Khoảng trống nghiên cứu mà đề tài của tác giả Nguyễn Linh Đan hướng tới giải quyết là gì?
Các công trình nghiên cứu trong nước trước đó chủ yếu tập trung vào các phương thức thanh toán truyền thống qua NHTM (séc, ủy nhiệm chi, thẻ ngân hàng). Đề tài này tập trung giải quyết khoảng trống về sự phát triển của các phương thức thanh toán số hiện đại và sự tham gia của các tổ chức trung gian thanh toán phi ngân hàng (fintech) với các dịch vụ ví điện tử, mã QR và công nghệ thanh toán không tiếp xúc NFC.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Linh Đan đã phác họa bức tranh toàn diện về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2017–2019 dựa trên hệ thống số liệu định lượng của NHNN, IMF và khảo sát thực tế n = 208. Nghiên cứu chỉ rõ sự phân hóa giữa các phương thức: trong khi ủy nhiệm chi tiếp tục chi phối về giá trị giao dịch bán buôn và các phương thức thanh toán số (ngân hàng điện tử, ví điện tử, mã QR) tăng trưởng nhanh chóng ở thị trường bán lẻ, thì séc và ủy nhiệm thu dần suy giảm thị phần. Trên cơ sở nhận diện rào cản từ thói quen tiền mặt và sự chênh lệch hạ tầng giữa các vùng miền, công trình đã đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn gắn với thị trường nông thôn, số hóa dịch vụ công và hoàn thiện thể chế quản lý trung gian thanh toán đến năm 2030.