mở đầu, vừa là khâu kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó, nếu tổ chức tốt khâu thanh toán sẽ làm tăng sự vận động của vật tư và tiền vốn, giúp cho các doanh nghiệp thu được vốn nhanh để phục vụ cho chu kỳ sản xuất sau cũng tức là phục vụ cho quá trình tái sản xuất không ngừng phát triển. Các phương thức thanh toán không sử dụng tiền mặt 1. Các phương thức thanh toán không sử dụng tiền mặt truyền thống a) Thanh toán bằng séc Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập trên mẫu do NHNN quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc.
Séc là một chi phiếu, lập trên mẫu in sẵn do chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho người bán để thanh toán tiền vật tư, hàng hóa, chi phí, dịch vụ,… Theo Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (1998), séc được cho là đã xuất hiện từ thời Đế chế Maurya tại Ấn Độ (321-185 Trước Công nguyên). Qua nhiều năm thay 9 đổi và phát triển, séc trở nên thịnh hành nhất vào những năm 1900 của thế kỉ trước, khi các nước tại châu Âu, châu Mỹ đồng loạt hoàn chỉnh và thông qua các quy định sử dụng séc. Trong thời hoàng kim, có đến hàng tỉ giao dịch séc được xử lý mỗi năm, giá trị giao dịch đạt đỉnh vào những năm 1980-1990 (Barclays, 2020). Đến đầu thế kỉ 21, sự xuất hiện của các loại thẻ và phương thức thanh toán điện tử đã làm giảm sự phổ biến của séc.
Quy trình thanh toán séc (1) Người bán giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua (2) Người mua ký phát hành séc chuyển khoản và giao trực tiếp cho người bán (3) Người bán (người thụ hưởng) lập bảng kê nộp séc cùng với các tờ séc chuyển khoản gửi đến ngân hàng đề nghị thanh toán (một bảng kê nộp séc có thể gồm nhiều tờ séc cùng đến một ngân hàng phát hành) (4) Chuyển bảng kê nộp séc kèm (các) tờ séc chuyển khoản sang đơn vị thanh toán (5) Đơn vị thanh toán thực hiện kiểm soát, hạch toán và ghi Nợ cho người phát hành séc (6) Truyền Lệch chuyển Có tới địa điểm đơn vị thu hộ (7) Căn cứ vào Lệnh chuyển Có nhận được, đơn vị thu hộ ghi Có cho người thụ hưởng 10 b) Thanh toán bằng ủy nhiệm chi UNC là lệnh chi do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn để yêu cầu ngân hàng nơi mình mở tài khoản, trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng về tiền hàng hóa dịch vụ hoặc chuyển vào một tài khoản khác của chính mình. Với cách sử dụng thuận tiện, đơn giản, UNC được dùng để thanh toán các khoản hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền một cách rộng rãi và phổ biến trong cả nước không phân biệt trong cùng hệ thống hay khác hệ thống.2: Quy trình thanh toán UNC (1) Người bán giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua (2) Người chi trả sau khi hoàn thành nhận hàng hóa, dịch vụ sẽ lập UNC gửi TCCƯDVTT phục vụ mình để đề nghị chuyển trả tiền cho người thụ hưởng (3) Căn cứ vào UNC, TCCƯDVTT ghi Nợ và báo Nợ cho người phát lệnh (người chi trả) (4) Đồng thời gửi Lệnh chuyển Có sang TCCƯDVTT phục vụ người thụ hưởng (5) Căn cứ vào Lệnh chuyển Có, TCCƯDVTT ghi Có tài khoản tiền gửi người thụ hưởng và báo Có cho người thụ hưởng c) Thanh toán bằng UNT UNT là một thể thức thanh toán được tiến hành trên cơ sở giấy UNT và các chứng từ hóa đơn do người bán lập và chuyển đến ngân hàng để yêu cầu thu hộ tiền từ người mua về hàng hóa đã giao, dịch vụ cung ứng phù hợp với những điều kiện thanh toán đã ghi trong hợp đồng kinh tế. 11 UNT được áp dụng phổ biến trong mọi trường hợp với điều kiện 2 bên mua và bán phải thống nhất với nhau và phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về việc áp dụng thể thức UNT để ngân hàng làm căn cứ tổ chức thực hiện thanh toán.3: Quy trình thanh toán UNT (1) Người bán giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua trên cơ sở hợp đồng kinh tế đã ký kết (2) Người bán lập UNT gửi TTCƯDVTT phục vụ mình để đề nghị thu hộ số tiền theo UNT (3) TTCƯDVTT kiểm soát, ghi Nợ và báo Nợ cho người mua (4) Ghi Có và báo Có cho người bán d) Thanh toán bằng thư tín dụng Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác (ngân hàng ở nước xuất khẩu) chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi theo đúng điều kiện và chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng. Thư tín dụng đã được sử dụng ở châu Âu từ thời cổ đại.
Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khách du lịch thường mang theo thư tín dụng do ngân hàng cấp, cho phép người thụ hưởng rút tiền từ các ngân hàng khác trong suốt hành trình của họ. Mặc dù thư tín dụng đầu tiên chỉ tồn tại dưới dạng giấy, chúng đã được phát hành bằng điện báo vào cuối thế kỷ 19, và bằng telex vào nửa sau của thế kỷ 20. Bắt đầu từ năm 1973 với việc tạo ra SWIFT, các ngân hàng bắt đầu chuyển sang 12 trao đổi dữ liệu điện tử để tiết kiệm chi phí, và đây cũng là năm thư tín dụng được sử dụng rộng rãi trong giao thương. (“Letter of Credit”, 2020) e) Thanh toán bằng thẻ Thẻ thanh toán là phương thức do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoảng được các bên thỏa thuận.
Chiếc thẻ đầu tiên được phát hành vào năm 1967, là thẻ ATM của ngân hàng Barclays tại Anh. Chiếc thẻ này có 1 dải từ màu đen được mã hóa, được bảo mật bằng mã PIN. Sau nhiều năm, thẻ ngân hàng càng ngày càng đa dạng về tính năng, chủng loại và vẫn là một trong những phương thức TTKSDTM phổ biến nhất. (“Bank card”, 2020) Thẻ gồm 3 loại chính: Thẻ ghi nợ (Debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại ngân hàng.
Thẻ trả trước (Prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Thẻ tín dụng (Credit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.4: Quy trình thanh toán thẻ 13 1. Các phương thức thanh toán không sử dụng tiền mặt hiện đại Ngoài các phương thức TTKSDTM qua ngân hàng đã quen thuộc và nhờ có sự ứng dụng công nghệ hiện đại, tại Việt Nam cũng đã có những hình thức thanh toán điện tử mới mẻ.
Các phương thức TTKSDTM hiện đại có thể kể đến như các ứng dụng online banking, ví điện tử, thanh toán qua mã QR hay thanh toán tiếp xúc gần NFC được tích hợp sẵn trong ứng dụng ngân hàng hay ví điện tử. a) Thanh toán qua online banking Đây là kênh thanh toán qua ngân hàng mới nhất và thuận tiện nhất đối với khách hàng. Chỉ cần một chiếc máy tính hay điện thoại thông minh, khách hàng có thể chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mua sắm online, gửi tiền tiết kiệm,… mọi lúc mọi nơi mà không cần ra quầy giao dịch. Quy trình thanh toán online banking gồm các bước: người mua và người bán “ ký kết hợp đồng mua bán cung ứng hàng hóa dịch vụ; người mua sử dụng dịch vụ online banking của ngân hàng phục vụ mình, thực hiện chuyển tiền cho người bán; ngân hàng cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện ghi nợ tài khoản của người mua đồng thời thực hiện lệnh chuyển tiền từ tài khoản của người mua sang ngân hàng phục vụ người bán; ngân hàng phục vụ người bán sau khi nhận được lệnh chuyển tiền từ ngân hàng phục vụ người mua tiến hành báo có cho người bán.
” b) Ví điện tử Theo Nghị định 10/VBHN-NHNN: “Dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính…), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.” Vậy có thể hiểu ví điện tử là dịch vụ thanh toán thường được thiết kế như một ứng dụng di động, có thể liên kết với tài khoản ngân hàng hoặc hoạt động độc lập như một chiếc ví thông thường. Những tính năng nổi bật của một ví điện tử gồm: thanh toán dịch vụ, thanh toán hóa đơn, mua vé máy bay, tàu lửa, vé xem 14 phim, nạp thẻ điện thoại, xác định khuyến mãi, ưu đãi giảm giá, lưu trữ, quản lý các giao dịch trên ví,… c) Mã QR Mã QR viết tắt của Quick Respond (Phản hồi nhanh), là một loại mã vạch 2D phổ biến nhất mà điện thoại thông minh có thể đọc được. Năm 1994, tên của loại mã vạch ma trận này đã được đăng kí bản quyền thuộc ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản. Loại mã này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như marketing và chia sẻ thông tin, nó trở nên ngày một phổ biến khi được áp dụng thực hiện thanh toán di động, đặc biệt là ở Trung Quốc.