Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò huyết mạch trong việc kết nối các chủ thể kinh tế, tối ưu hóa chu chuyển vốn và giảm thiểu lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, việc mở rộng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt là công cụ hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ, kiểm soát cung tiền M2, kiềm chế lạm phát, tăng cường tính minh bạch và phòng chống tội phạm tài chính, rửa tiền. Đối với các ngân hàng thương mại, sự chuyển dịch này giúp gia tăng nguồn vốn tiền gửi thanh toán chi phí thấp, tối ưu hóa hiệu quả giải ngân tín dụng và cắt giảm chi phí vận hành liên quan đến kiểm đếm, bảo quản và vận chuyển tiền mặt. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát trên quy mô toàn cầu, việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp qua tiền mặt càng khẳng định tính cấp thiết của việc phát triển hạ tầng thanh toán điện tử.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Đức Khanh (ngành Ngân hàng, Học viện Ngân hàng) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại thị trường Việt Nam. Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp các công trình tiêu biểu trong và ngoài nước:
- Đặng Công Hoàn (2016) nghiên cứu phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư tại Việt Nam, tập trung vào dịch vụ ngân hàng điện tử và thẻ nhưng chưa bao quát các phương thức truyền thống.
- Cao Thị Thu Huyền (2013) nghiên cứu thực trạng và giải pháp tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), chủ yếu xem xét các công cụ thanh toán truyền thống và thẻ, thiếu vắng các phương thức hiện đại như ngân hàng di động hay ví điện tử.
- Lã Thị Kim Anh (2015) nghiên cứu mô hình phát triển dịch vụ thanh toán tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Thái Nguyên qua mô hình phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
- Các công trình quốc tế của Yancho Dimov (2011) tại Bulgaria, Abdul Wahad Yakubu (2012) tại Ghana và Canan Dagdemir cùng Julia Sauer (2015) phân tích tác động của thói quen tiêu dùng, dân trí, cơ sở hạ tầng và thể chế đến việc tiếp nhận các công cụ thanh toán điện tử.
Từ việc xác định khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu hụt các nghiên cứu cập nhật bao quát đồng thời các phương thức thanh toán truyền thống lẫn hiện đại và các nhân tố tâm lý hành vi của khách hàng trong bối cảnh số hóa, tác giả xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm khái niệm, vai trò, nguyên tắc, các hình thức thanh toán, nhân tố ảnh hưởng và hệ thống tiêu chí đánh giá.
- Phân tích thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam thông qua các chỉ tiêu định lượng (số lượng tài khoản, phương tiện thanh toán, thẻ ngân hàng, hạ tầng giao dịch ATM/POS) và chỉ tiêu định tính (thói quen, tần suất sử dụng, các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng).
- Đề xuất các giải pháp trọng tâm đối với ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, người tiêu dùng và kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào thị trường thanh toán nội địa Việt Nam; phạm vi về thời gian bao quát giai đoạn từ năm 2018 đến quý I năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống các định nghĩa kinh tế học và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:
- Khái niệm tiền mặt được quy định theo Thông tư số 33/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống Kho bạc Nhà nước.
- Hoạt động thanh toán và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được căn cứ theo Nghị định số 101/2012/NĐ-CP của Chính phủ, kết hợp quan điểm lý luận của các học giả chuyên ngành như Trần Trung Hà (2014) và Lê Đình Hạc (2020).
- Các phương thức thanh toán cụ thể được quy chiếu theo các văn bản pháp lý tương ứng: Séc căn cứ theo Thông tư số 22/2015/TT-NHNN và Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; dịch vụ ví điện tử căn cứ theo Nghị định số 10/VBHN-NHNN; dịch vụ trung gian thanh toán căn cứ theo Thông tư số 39/2014/TT-NHNN và Thông tư số 23/2019/TT-NHNN; cùng các văn bản đặt nền móng lịch sử như Quyết định số 06/1992, Quyết định số 39/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Nghị định số 91/1993/NĐ-CP của Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu định lượng thứ cấp và nghiên cứu sơ cấp:
- Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2018 đến quý I/2021 nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh về quy mô tài khoản, tổng phương tiện thanh toán, lượng thẻ lưu hành và diễn biến giao dịch qua thiết bị POS, ATM.
- Phương pháp khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi sơ cấp với quy mô mẫu gồm 100 khách hàng tại Việt Nam để đo lường các chỉ tiêu định tính về độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, tần suất giao dịch và các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn công cụ thanh toán.
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia: Thu thập nhận định từ các cán bộ quản lý và chuyên viên có kinh nghiệm điều hành trong lĩnh vực thanh toán và quản lý tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cùng kết quả khảo sát thực tế của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết toàn diện về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt:
- Khái niệm và vai trò: Phân tích bản chất của việc luân chuyển tiền tệ giữa tài khoản người chi trả và người thụ hưởng thông qua trung gian thanh toán. Luận điểm làm rõ vai trò đa chiều của thanh toán không dùng tiền mặt đối với ba chủ thể: Nhà nước (tiết kiệm chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển tiền; kiểm soát lạm phát và cung tiền M2; hỗ trợ chính sách tiền tệ; phòng chống rửa tiền); Ngân hàng (nâng cao hiệu quả kinh doanh và huy động tiền gửi thanh toán, quản trị rủi ro tín dụng, cắt giảm chi phí kiểm đếm); Tổ chức và cá nhân (đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, tiết kiệm thời gian, chi phí và bảo đảm an toàn tài sản).
- Nguyên tắc thanh toán: Dẫn giải 4 nguyên tắc cơ bản theo TS. Nguyễn Hồng Yến (2018): (1) Các chủ thể phải mở tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; (2) Số tiền thanh toán căn cứ trên giao dịch thực tế và sự chuẩn bị số dư/hạn mức thấu chi; (3) Bên bán/cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm giao hàng đúng thỏa thuận và kiểm soát chứng từ; (4) Tổ chức cung ứng chỉ trích tiền khi có lệnh hợp lệ của người chi trả (trừ trường hợp ủy nhiệm thu theo thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan thẩm quyền).
- Các hình thức thanh toán: Phân tích quy trình vận hành của các phương thức truyền thống (Séc, Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, Thư tín dụng - L/C qua hệ thống SWIFT từ năm 1973) và các công cụ thanh toán hiện đại (Thẻ ghi nợ, thẻ trả trước, thẻ tín dụng; Dịch vụ ngân hàng trực tuyến Online banking; Ví điện tử với cơ chế đảm bảo số dư 1:1; Mã phản hồi nhanh QR với cấu trúc từ 33x33 đến 177x177 ma trận vuông chứa tối đa 4.296 ký tự hoặc 23.648 bit; Công nghệ giao tiếp từ trường gần NFC hoạt động ở tần số vô tuyến RFID 13,56 MHz trong phạm vi 2 inch).
- Nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá: Xác định 5 nhóm nhân tố chi phối (chính sách nhà nước; năng lực công nghệ và nhân lực; môi trường kinh tế; tâm lý - thói quen tiêu dùng; quá trình hội nhập quốc tế). Đồng thời, xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá định lượng (số lượng tài khoản cá nhân, tổng phương tiện thanh toán, số lượng thẻ, số máy ATM/100.000 dân, tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, quy mô giao dịch) và tiêu chí định tính (tần suất sử dụng, sự đa dạng, chất lượng dịch vụ, tính thuận tiện và an toàn bảo mật).
Chương 2: Thực trạng thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam
Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử và phân tích thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2018 – quý I/2021:
- Tiến trình lịch sử và mạng lưới hạ tầng: Từ Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, qua thời kỳ bao cấp sử dụng tiền mặt phân phối, đến giai đoạn đổi mới chống siêu lạm phát năm 1986 (774,7%). Bước ngoặt công nghệ bắt đầu từ Quyết định số 06/1992, Quyết định số 39/1992 về chuyển khoản điện tử và Nghị định số 91/1993/NĐ-CP xác lập mô hình thanh toán 2 cấp. Dự án Hiện đại hóa hệ thống thanh toán ngành Ngân hàng giai đoạn 1 (Dự án PSBM 1, vay Ngân hàng Thế giới 49 triệu USD giai đoạn 11/1995 - 12/2003) đã triển khai hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, rút ngắn thời gian thanh toán liên ngân hàng từ 1 tháng xuống còn 1 ngày. Đến nay, Việt Nam vận hành 9 hệ thống thanh toán chính (IBPS, thanh toán song phương, hệ thống internet/mobile banking, SWIFT, hệ thống bù trừ, hệ thống nội bộ từng NHTM, VCB-Money, hệ thống thanh toán chứng khoán của BIDV).
- Sự tham gia của khối phi ngân hàng: Thực thi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN và Thông tư số 23/2019/TT-NHNN, tính đến tháng 5/2021, Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép cho 44 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phi ngân hàng (các đơn vị được cấp phép trong năm 2021 gồm: MobiFone ngày 09/03/2021, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam - VNPOST ngày 12/04/2021, Công ty Cổ phần Zion - đơn vị vận hành ZaloPay ngày 13/05/2021).
- Phân tích các chỉ tiêu định lượng:
Bảng 1: Quy mô tài khoản thanh toán cá nhân giai đoạn 2018 - Quý I/2021
| Thời điểm |
Số lượng tài khoản (nghìn tài khoản) |
Số dư tiền gửi (tỷ đồng) |
| Quý I/2018 |
70.213,00 |
349.349,00 |
| Quý I/2019 |
81.366,00 |
408.766,00 |
| Quý I/2020 |
90.840,42 |
476.523,68 |
| Quý I/2021 |
104.189,00 |
741.378,00 |
Số lượng tài khoản cá nhân tăng 48,8% từ quý I/2018 đến quý I/2021, trong khi số dư tiền gửi tăng hơn gấp đôi (tăng 112,2%). Tổng phương tiện thanh toán tại các tổ chức tín dụng tăng từ 8.475.000 tỷ đồng (tháng 1/2018) lên 12.211.000 tỷ đồng (tháng 2/2021, tăng 47,4%), trong đó tiền gửi dân cư tăng 32,05% (từ 3.153.000 tỷ đồng lên 5.704.000 tỷ đồng).
Bảng 2: Số lượng thẻ ngân hàng lưu hành giai đoạn Quý I/2020 - Quý I/2021
| Thời điểm |
Thẻ nội địa lưu hành (triệu thẻ) |
Thẻ quốc tế lưu hành (triệu thẻ) |
| Quý I/2020 |
87,78 |
15,35 |
| Quý II/2020 |
90,69 |
15,62 |
| Quý III/2020 |
93,78 |
16,46 |
| Quý IV/2020 |
94,00 |
17,00 |
| Quý I/2021 |
96,00 |
18,00 |
Từ quý IV/2019, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang thống kê thẻ đang lưu hành thay vì số phát hành lũy kế (lũy kế từng đạt 171,3 triệu thẻ vào quý III/2019). Trong giai đoạn quý I/2020 - quý I/2021, thẻ nội địa lưu hành tăng 9,4% và thẻ quốc tế tăng 17,26%.
Bảng 3: Diễn biến hạ tầng và giao dịch qua ATM, POS/EFTPOS/EDC
| Chỉ tiêu |
Số lượng thiết bị ATM |
Số lượng thiết bị POS |
Giao dịch ATM (Món) |
Giao dịch POS (Món) |
Giá trị GD ATM (Tỷ đồng) |
Giá trị GD POS (Tỷ đồng) |
| Quý I/2018 |
17.889 |
278.768 |
207.668.298 |
44.310.402 |
599.472 |
99.393 |
| Quý I/2019 |
18.668 |
261.705 |
232.729.840 |
55.757.772 |
676.550 |
132.922 |
| Quý I/2020 |
19.548 |
256.714 |
250.920.307 |
81.536.628 |
727.691 |
148.419 |
| Quý I/2021 |
19.714 |
271.727 |
264.750.939 |
103.428.204 |
766.989 |
179.466 |
Giao dịch qua POS tăng trưởng mạnh về số lượng món (tăng 133,4% từ quý I/2018 đến quý I/2021) và giá trị (tăng 80,6%), phản ánh sự dịch chuyển thói quen chi tiêu hàng ngày của người dân.
- Đánh giá định tính và khảo sát: Khảo sát 100 khách hàng phản ánh rõ nét sự chuyển dịch sang các sản phẩm ngân hàng số và ví điện tử. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế: Lượng thẻ phát hành thực tế chưa được kích hoạt hoặc không sử dụng còn cao; hạ tầng POS phân bố không đều, chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn; tâm lý ưa chuộng tiền mặt vẫn phổ biến ở khu vực nông thôn do e ngại rủi ro bảo mật và thiếu điểm chấp nhận thanh toán.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy thanh toán không tiền mặt tại Việt Nam
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp và kiến nghị dựa trên định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt năm 2021:
- Nhóm giải pháp đối với NHTM và tổ chức trung gian thanh toán: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và áp dụng các tiêu chuẩn an ninh bảo mật cao; mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS, điểm quét QR); chính sách biểu phí dịch vụ hợp lý và ưu đãi cho khách hàng duy trì số dư tài khoản; đa dạng hóa các tiện ích tích hợp trên ứng dụng di động (thanh toán điện nước, viễn thông, bảo hiểm, y tế, giáo dục).
- Nhóm giải pháp đối với khách hàng: Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao nhận thức về lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt; hướng dẫn kỹ năng giao dịch an toàn và bảo mật thông tin cá nhân.
- Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước: Đề xuất Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát Sandbox, quy định về Mobile Money); đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực dịch vụ công (thu thuế, viện phí, học phí, chi trả an sinh xã hội); xây dựng hạ tầng kỹ thuật thanh toán quốc gia đồng bộ và kết nối liên thông.
Kết quả và đóng góp
Công trình nghiên cứu đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể:
- Kết quả định lượng:
- Xác lập bức tranh tăng trưởng tài khoản thanh toán cá nhân tại Việt Nam đạt 104,189 triệu tài khoản với số dư 741.378 tỷ đồng vào quý I/2021.
- Thống kê tổng phương tiện thanh toán đạt mốc 12.211.000 tỷ đồng vào tháng 2/2021 (tăng 47,4% so với tháng 1/2018).
- Ghi nhận sự chuyển dịch trong quản lý thẻ với 96 triệu thẻ nội địa và 18 triệu thẻ quốc tế đang lưu hành thực tế tính đến quý I/2021.
- Ghi nhận sự phát triển của hệ thống trung gian thanh toán với 44 tổ chức phi ngân hàng được cấp phép hoạt động tính đến tháng 5/2021.
- Đo lường sự tăng trưởng của giao dịch POS đạt 103,43 triệu món (giá trị 179.466 tỷ đồng) và giao dịch ATM đạt 264,75 triệu món (giá trị 766.989 tỷ đồng) trong quý I/2021.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Cung cấp hệ thống tài liệu tổng hợp đầy đủ từ cơ sở pháp lý, tiến trình lịch sử hình thành hệ thống thanh toán quốc gia từ năm 1951 đến các mô hình thanh toán công nghệ mới (QR, NFC).
- Đưa ra góc nhìn thực tế cho các NHTM và tổ chức trung gian thanh toán thông qua việc kết hợp chuỗi dữ liệu vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước với khảo sát vi mô 100 khách hàng và phỏng vấn chuyên gia quản lý tiền tệ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoạt động thanh toán nội địa, không đi sâu vào mảng thanh toán bù trừ hàng hóa và thanh toán quốc tế chuyên sâu; quy mô khảo sát sơ cấp dừng lại ở 100 khách hàng nên tính đại diện cho các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa còn hạn chế; mốc số liệu thống kê dừng lại ở thời điểm quý I năm 2021 theo thời gian hoàn thành khóa luận.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều địa bàn nông thôn; tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động của các mô hình thanh toán mới như Mobile Money, cơ chế Sandbox cho Fintech và nghiên cứu khả năng ứng dụng đồng tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (CBDC).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển khi tìm hiểu về cơ sở lý thuyết, khung pháp lý và lịch sử phát triển của hệ thống thanh toán Việt Nam (đặc biệt là tiến trình dự án PSBM 1 và sự hình thành hệ thống IBPS).
- Các cán bộ nghiệp vụ tại ngân hàng thương mại, công ty trung gian thanh toán (Fintech) tham khảo các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ định lượng/định tính và các phân tích về hành vi sử dụng thẻ, POS, ví điện tử để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Dự án Hiện đại hoá hệ thống thanh toán ngành Ngân hàng giai đoạn 1 (PSBM 1) có quy mô vốn vay bao nhiêu và mang lại kết quả gì?
Dự án PSBM 1 được triển khai từ tháng 11/1995 đến tháng 12/2003 với số vốn vay 49 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới (World Bank). Dự án đã giúp Ngân hàng Nhà nước triển khai hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) tại 5 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh), rút ngắn thời gian xử lý giao dịch liên ngân hàng từ 1 tháng xuống còn 1 ngày.
2. Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi tiêu chí thống kê số lượng thẻ ngân hàng từ thời điểm nào và số liệu ghi nhận đến Quý I/2021 ra sao?
Từ quý IV/2019, Ngân hàng Nhà nước chuyển từ chỉ tiêu "số lượng thẻ phát hành lũy kế" sang "số lượng thẻ đang lưu hành" (phân loại thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế) nhằm phản ánh chính xác lượng thẻ thực tế hoạt động. Tính đến quý I/2021, thị trường ghi nhận 96 triệu thẻ nội địa lưu hành (tăng 9,4% so với quý I/2020) và 18 triệu thẻ quốc tế lưu hành (tăng 17,26% so với quý I/2020).
3. Tính đến tháng 5/2021, có bao nhiêu tổ chức phi ngân hàng được cấp phép làm trung gian thanh toán tại Việt Nam và những đơn vị nào được cấp phép gần nhất?
Có tổng cộng 44 tổ chức phi ngân hàng được cấp phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Ba đơn vị được cấp phép gần nhất trong năm 2021 gồm: Tổng công ty Viễn thông MobiFone (ngày 09/03/2021), Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam - VNPOST (ngày 12/04/2021) và Công ty Cổ phần Zion - đơn vị vận hành ZaloPay (ngày 13/05/2021).
4. Khóa luận mô tả cấu trúc kỹ thuật và thông số bảo mật của mã QR và công nghệ NFC như thế nào?
Mã QR được phân tích với ma trận từ 33x33 đến 177x177 hình vuông nhỏ, trong đó loại 177x177 có khả năng chứa tối đa 4.296 ký tự hoặc 23.648 bit. Công nghệ NFC là phương thức thanh toán không tiếp xúc sử dụng sóng vô tuyến RFID ở tần số 13,56 MHz, trao đổi dữ liệu mã hóa trong phạm vi khoảng cách 2 inch và chỉ kết nối với một thiết bị thanh toán tại một thời điểm để đảm bảo an toàn.
5. Quy mô số lượng tài khoản và số dư tiền gửi thanh toán cá nhân biến động như thế nào trong giai đoạn 2018 - Quý I/2021?
Số lượng tài khoản thanh toán cá nhân tăng từ 70,213 triệu tài khoản (quý I/2018) lên 104,189 triệu tài khoản (quý I/2021), đạt mức tăng trưởng 48,8%. Cùng giai đoạn này, số dư tiền gửi thanh toán cá nhân tăng vượt trội từ 349.349 tỷ đồng lên 741.378 tỷ đồng (tăng hơn 112,2%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Đức Khanh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2018 - quý I/2021. Dựa trên nguồn dữ liệu thống kê chính thức của Ngân hàng Nhà nước kết hợp khảo sát sơ cấp 100 khách hàng, đề tài đã làm rõ sự tăng trưởng mạnh mẽ của tài khoản cá nhân, mạng lưới giao dịch thẻ, POS và sự mở rộng của 44 tổ chức trung gian thanh toán phi ngân hàng. Đồng thời, công trình chỉ ra các rào cản về thói quen tiền mặt, sự phân bổ hạ tầng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Việt Nam.