Chương 1: Cơ sở lý luận về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt Chương 2: Thực trạng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp thúc đẩy thanh không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam 7 CHƯ NG 1: C SỞ LÝ LUẬN VỀ THÚC ĐẨY THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt - Khái niệm tiền mặt Trong kinh tế học, có nhiều khái niệm khác nhau về tiền mặt Theo trang Businessdictionary giữ trong tay, tiền lẻ, số dư tài khoản ngân hàng, séc và chứng khoán có tính thanh khoản. Nó cũng có thể bao gồm phần chưa dùng đến của một cơ sở thấu chi hoặc hạn mức tín dụng”. Theo quy số 33/2017/TT-BTC của bộ Tài Chính về Chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống kho bạc Nhà nước, tiền mặt được định nghĩa “là các loại tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành”.
Xuyên suốt đề tài nghiên cứu này, tiền mặt được hiểu là các loại tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Trung ương của một quốc gia phát hành. -Khái niệm thanh toán Thanh toán được hiểu là sự chuyển giao tài sản của một bên (cá nhân hoặc công ty, tổ chức) cho bên kia, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch có ràng buộc pháp lý. Theo tác giả Trần Trung Hà (2014), thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong quan hệ kinh tế nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hay trong việc trả nợ.
-Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Căn cứ theo khoản 1, điều 4 Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được định nghĩa như sau: “Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng. Lê Đình Hạc – Khoa Sau Đại Học, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (2020), “Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là hình thức thanh toán thông qua các phương tiện thanh toán khách không phải tiền mặt như tài sản, chứng chỉ có giá trị tương đương. Nghĩa là người tiêu dùng có thể sử dụng các giấy tờ có giá, tài sản hữu hình (không phải vàng, bạc) hoặc sử dụng công cụ để thanh toán, nhưng chủ yếu thông qua các tổ chức tín dụng thay vì người tiêu dùng và người bán trực tiếp trao đổi với nhau hiện nay. Xuyên suốt khóa luận này, thanh toán không dùng tiền mặt được hiểu là cách thức thanh toán hàng hoá, dịch vụ mà ở đó không có sự tham gia của tiền mặt, với phương thứ này, tiền được chuyển từ tài khoản của người chi trả sang cho tài khoản của người thụ hưởng bằng cách bù trừ lẫn nhau qua vai trò trung gian của các đơn vị cung cấp dịch thanh toán của người thu hưởng.
Việc thanh toán bù trừ hàng hoá không được nghiên cứu trong khóa luận này. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 1. Vai trò với nhà nước - Giảm chi phí in ấn, bảo quản và vận chuyển tiền: việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm tăng khối lượng tiền ghi sổ và giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó tiết giảm được chi phí về in ấn tiền, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền. - Góp phần kiềm chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ: Thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt tức là góp phần tăng nhanh tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong chu chuyển tiền tệ, từ đó sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm cung tiền M2, tiến tới kiềm chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ.
- Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần thực hiện tốt những mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước: việc mở rộng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giảm được khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông và làm tăng khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho Ngân hàng Trung ương 9 có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ, từ đó hoàn thành các mục tiêu của chính sách tiền tệ. -Phòng chống rửa tiền: việc thanh toán không dùng tiền mặt giúp các giao dịch được quản lý dễ dàng hơn bởi Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan ban ngành, góp phần rất quan trọng vào công tác phòng, chống rửa tiền đang ngày càng nhức nhối hiện nay. Vai trò với ngân hàng -Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đầu tư: công tác TTKDTM càng phát triển, càng mở rộng thì ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức có nhu cầu mở tài khoản sử dụng các dịch vụ thanh toán tại ngân hàng, nhờ đó, các khoản thu nhập từ phí dịch vụ cũng như nguồn vốn Ngân hàng huy động được từ từ số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán của các cá nhân, tổ chức kinh tế sẽ tăng lên. Đồng thời, thông qua TTKDTM, ngân hàng có thể dễ dàng giải ngân các khoản cho vay, kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nâng cao hiệu quả trong hoạt động tín dụng.
Không những thế, các khoản đầu tư được giải ngân bằng hình thức TTKDTM cũng dễ dàng được kiểm soát về chất lượng, mức sinh lời và sự minh bạch hơn, giúp nâng cao hiệu quả đầu tư của ngân hàng. - Cắt giảm chi phí: Với việc phát triển TTKDTM, ngân hàng tiết kiệm được lượng lớn chi phí đầu tư vào các thiết bị kiểm đếm, phát hiện tiền giả, đồng thời, chi phí liên quan đến bảo quản, vận chuyển tiền cũng được giảm đi đáng kể. -Giúp ngân hàng quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả: thông qua thanh toán không dùng tiền mặt, Ngân hàng nắm được một cách chính xác, hợp lý tình hình thiếu vốn của các bên tham gia thanh toán, để kịp thời cho vay, giải ngân đúng mục đích và có vật tư hàng hóa đảm bảo, đồng thời kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Vai trò với các tổ chức, cá nhân a) Với các tổ chức - Thúc đẩy và duy trì lưu thông hàng hoá, dịch vụ: Thanh toán không dùng tiền mặt giúp đẩy thanh toán trong quá trình sản xuất, cung ứng và tiêu thụ hàng 10 hoá, dịch vụ của một tổ chức, giúp hàng hoá lưu thông nhanh hơn, tạo điều kiện thu hồi vốn thuận lợi để đầu tư cho kỳ sản xuất tiếp theo.
- Cắt giảm chi phí, từ đó gia tăng lợi nhuận, đảm bảo duy trì hoạt động của các tổ chức: Việc thanh toán không dùng tiền mặt giúp các tổ chức tiết kiệm lượng lớn chi phí cũng như thời gian cho việc thanh toán, từ đó làm tăng lợi nhuận, tạo điều kiện duy trì hoạt động của tổ chức cũng như củng cố nguồn lực cho hoạt động đầu tư mở rộng và phát triển. b) Với các cá nhân - Tiết kiệm thời gian, chi phí: Thanh toán không dùng tiền mặt giúp người dân tiết kiệm thời gian kiểm đếm tiền mặt, hay thời gian, chi phí đi lại giữa các điểm giao dịch trao đổi hàng để thanh toán tiền hàng khi giờ đây, với vài thao tác đơn giản trên các thiết bị có kết nối internet, họ có thể thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ của mình ở bất cứ đâu mà không cần gặp trực tiếp người bán. Đồng thời, thanh toán không dùng tiền mặt như đã nói ở trên giúp giảm chi phí của doanh nghiệp, tại điều kiện giảm giá cả của hàng hoá, giúp người tiêu dùng có thể mua món hàng mình ưa thích với giá rẻ hơn. -An toàn, bảo mật: Việc hạn chế sử dụng tiền mặt giúp người dân hạn chế các rủi ro khi mang tiền mặt như trộm cắp, cướp giật, cũng như các rủi ro về mặt vật lý như hư hại, mất góc, giả mạo khiến tiền không thể sử dụng.
Các nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt Theo TS. Nguyễn Hồng Yến (2018) có một số nguyên tắc cơ bản trong thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm: Thứ nhất: Các chủ thể tham gia thanh toán (bao gồm cả pháp nhân và thể nhân) đều phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và được quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản. Thứ hai: Số tiền thanh toán giữa người chi trả và người thụ hưởng phải dựa trên cơ sở lượng hàng hoá, dịch vụ đã giao giữa người mua và người bán cũng như các thoả thuận giữa hai bên trước đó. Người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện thanh toán (số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ 11 thanh toán hoặc hạn mức thấu chi (nếu có) để đáp ứng đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu thanh toán.
Thứ ba: Người bán hay cung cấp dịch vụ là người được hưởng số tiền do người chi trả chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán; đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán. Thứ tư: Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán: -Chỉ trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng khi có lệnh của người chi trả (thể hiện qua các chứng từ thanh toán). Trường hợp không cần có lệnh của người chi trả (không cần có chữ ký của chủ tài khoản trên chứng từ) chỉ áp dụng đối với một số hình thức như uỷ nhiệm thu, hay lệnh của toàn kinh tế. - Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ khách hàng mở tài khoản, sử dụng các công cụ thanh toán phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh, phương thức giao nhận, vận chuyển hàng hóa.
Cung cấp đầy đủ các chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán của khách hàng. -Tổ chức hạch toán, chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn tài sản.