lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo. Nội dung chính các chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở luận về các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không 10 dùng tiền mặt Chƣơng 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt và các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng TMCP Công Thương VN chi nhánh Yên Bái Chƣơng 3: Giải pháp cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng TMCP Công Thương VN CN Yên Bái 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm Noe Capon (2009) chỉ ra rằng, thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán không trực tiếp sử dụng tiền mặt và được thực hiện bằng cách ghi nợ/ ghi có vào các tài khoản liên quan trong giao dịch một số tiền tương ứng phải thanh toán của các chủ thể hoặc căn cứ trên các chứng từ hợp pháp mà chủ thể xuất trình như giấy nhờ thu, séc, giấy ủy nhiệm chi v.v ngân hàng thực hiện nghiệp vụ trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của chủ thể này sang tài khoản của chủ thể khác [10] Theo hướng dẫn của Thông tư số 46/2014/NHNN của ngân hàng Nhà nước và Nghị định số 101/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt thì dịch vụ TTKDTM là “các dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng và một số dịch vụ khác thực hiện thanh toán không qua tài khoản ngân hàng”. [5] Phát triển hình thức dịch vụ này là tổng hợp các cách thức, biện pháp của ngân hàng để đẩy mạnh sự gia tăng trong số lượng và cải thiện về chất lượng của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ khách hàng.
Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt được hiểu là hình thức giao dịch chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện như thẻ thanh toán, chuyển khoản ngân hàng, chuyển tiền qua internet v.v giữa các khách hàng trên tài khoản ngân hàng của họ thay vì dùng tiền mặt. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền là một phạm trù vừa mang tính chất lý 12 thuyết trừu tượng vừa mang tính chất công nghệ cụ thể. Về bản chất, hình thức thanh toán này giúp hạn chế lượng tiền mặt lưu hành trên thị trường hàng hóa. Nó cũng là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ được thực hiện dễ dàng hơn giảm thiểu chi phí xã hội và lạm phát.
Bản chất của TTKDTM được thể hiện rõ hơn qua các điểm sau: a, Tiền tệ vận động tương đối độc lập với hàng hóa, dịch vụ. Tiền tệ xuất hiện trong quá trình trao đổi hàng hóa và được coi là đơn vị tiêu chuẩn để cân bằng giá trị giữa các hàng hóa với nhau. Khi đó, hàng hóa trước hết được quy ra bằng một số tiền nhất định, hàng hóa khác cũng có thể đổi lấy một số tiền tương đương và tiền ở đây bắt đầu đóng vai trò là vật trung gian, môi giới để quá trình trao đổi diễn ra đơn giản và nhanh chóng, hình thành nên mối quan hệ hàng – tiền - hàng. Do vậy, chức năng này khẳng định tiền chỉ xuất hiện trong trao đổi.
Song, khi nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng lên, các hình thức lưu thông hàng hóa phát triển, hình thành những hình thức mới bên cạnh quan hệ hàng hóa – tiền tệ như nhu cầu vay vốn, trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng v. Tiền tệ phát huy chức năng mới, không chỉ là trao đổi, mà còn là thanh toán. Bên cạnh đó, khả năng thanh toán khấu trừ lẫn nhau cũng được xã hội áp dụng trong những trường hợp mua bán chịu, khi chủ hàng thanh toán nợ, người ta không dùng tiền mặt mà khấu trừ luôn số nợ vào số tiền mà hàng hóa của mình có thể đổi được. Từ đó ta có thể thấy, trong trao đổi, mục đích của việc đổi hàng hóa lấy tiền là vì sức mua của nó - những gì nó có thể đổi được sau đó, chứ không phải vì bản thân đồng tiền.
Như vậy, tiền tệ không phải là mục đích của trao đổi, nó chỉ được xem là phương tiện để trao đổi, tức là tiền tệ có sự vận động riêng, tách rời sự vận động của hàng hóa [16,18]. b, Các chủ thể muốn tham gia thanh toán, giao dịch cần phải mở tài khoản tại ngân hàng. 13 Các chủ thể tham gia thanh toán (bên mua và bên bán) đều được tự do lựa chọn ngân hàng để tham gia giao dịch – nơi cung cấp đầy đủ dịch vụ mở tài khoản giao dịch cũng như thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Đây là đặc điểm riêng của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chủ tài khoản (bên mua) sẽ tiến hành thanh toán cho bên bán thông qua tài khoản này theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và phải trả phí thanh toán cho ngân hàng làm dịch vụ thanh toán theo quy định. “Tuân thủ” pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướng TTKDTM đặc biệt đối với các loại hình giao dịch có liên quan đến tài sản công, dịch vụ công, tài sản có giá trị lớn, thuộc diện phải quản lý tài sản và thu nhập (bất động sản/chứng khoán/ô tô.), các giao dịch ngoại hối. Để các yêu cầu thanh toán được thực hiện đầy đủ, kịp thời, chủ tài khoản phải có đủ số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng làm dịch vụ thanh toán (hoặc hạn mức thấu chi nếu có). Các ngân hàng cũng thường có các chính sách ưu tiên/giảm phí cho các giao dịch chuyển khoản nhằm khuyến khích TTKDTM [16,17] c, Ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
NHTM đóng vai trò là trung gian thanh toán, cung cấp đầy đủ những dịch vụ để đáp ứng nhu cầu phát sinh giữa người mua và người bán trong quá trình thanh toán. Tại đây, ngân hàng phải thực hiện đúng chức năng là hoàn thành tất cả các khâu trong nghiệp vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Do thực hiện chức năng này, ngân hàng chịu trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản của khách hàng và theo dõi, lưu lại khách hàng đã chi các khoản nào trên tài sản của mình tại ngân hàng. Khi được yêu cầu, ngân hàng sẽ trích chuyển tiền từ tài khoản của bên mua vào tài khoản của bên bán và kết thúc quá trình thanh toán.
Chức năng trung 14 gian thanh toán cũng tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho vay để tạo doanh thu trên cơ sở tiền gửi của khách hàng, vì để khách hàng có thể thực hiện thanh toán, trước hết họ cần gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, đó là một yêu cầu cơ bản tất yếu.[8,18] Ngân hàng cũng tạo ra nhiều công cụ lưu thông khác nhau như séc, thẻ thanh toán hay giấy chuyển ngân v.v trong quá trình làm trung gian thanh toán, đồng thời họ giữ độc quyền quản lý các công cụ này. Ngân hàng cung cấp đầy đủ các chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán cho khách hàng, sự có mặt của NHTM trong giao dịch giúp giảm thiểu đáng kể chi phí lưu thông cho xã hội, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển của dòng tiền, từ đó quá trình lưu thông của hàng hóa cũng được thúc đẩy hiệu quả và khách hàng ngày càng có được sự tín nhiệm cao hơn. Ngoài ra, NHTM phải có trách nhiệm nhất định khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong đó, cần hướng dẫn khách hàng mở tài khoản sao cho hợp lệ, giúp khách hàng hiểu tùy vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, hay mỗi phương thức giao nhận, vận chuyển khác nhau sẽ cần các công cụ thanh toán thích hợp tương ứng, từ đó khách hàng lựa chọn, phối hợp để quá trình thanh toán diễn ra đúng trình tự và chính xác, hiệu quả.
Trong trường hợp nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng có sự sai sót, nhầm lẫn gây ra thiệt hại nhất định cho khách hàng thì tùy theo mức độ vi phạm, ngân hàng sẽ phải bồi thường thiệt hại, chịu trách nhiệm theo quy định của luật hiện hành [15].2 Vai trò thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Đối với nền kinh tế Về mặt kinh tế, TTKDTM đóng vai trò quan trọng vì một khi hoạt động TTKDTM phát triển tốt thì tỷ trọng TTKDTM trong luân chuyển tiền tệ tăng nhanh. Điều này kéo theo lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ được giảm đi đáng kể, đồng thời các chi phí cần thiết liên quan đến in tiền, khâu kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền v.v cũng được tiết kiệm, cùng với đó thị trường giá 15 cả cũng sẽ có những thay đổi tích cực nhất định, lạm phát được kiềm chế và hướng tới sự ổn định tiền tệ [16]. Mặt khác, TTKDTM còn giúp Nhà nước kiểm soát những giao dịch không minh bạch tốt hơn, tránh được việc thất thu thuế; hạn chế rủi ro từ hành vi rửa tiền của các chủ thể, kiểm soát và phát hiện các thanh toán phạm pháp. Bên cạnh đó TTKDTM cũng góp phần khiến chủ thể thanh toán tích ít trữ tiền mặt bên mình hơn, đồng thời giúp các ngân hàng huy động vốn từ lượng tiền gửi của khách hàng khi họ chưa có nhu cầu sử dụng, tạo nguồn cho quỹ cho vay cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Chi phí huy động các khoản vốn nhàn rỗi thấp sẽ tạo điều kiện để các NHTM hạ lãi suất cho vay, mở rộng cho vay khiến kinh tế phát triển hơn. Tỉ trọng TTKDTM của ngân hàng tăng tỷ lệ thuận với các nguồn vốn ngân hàng thu hút được trong xã hội.2 Đối với Ngân hàng Thương mại Quá trình kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho hệ thống NHTM có lượng tiền cung ứng dồi dào hơn nhờ khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Bằng cách sử dụng vốn chưa khai thác của các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế để tạo quỹ cho vay, ngân hàng trở thành một kênh phân phối vốn có hiệu quả.