Tổng quan nghiên cứu
Thị trường thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2012 đã chứng kiến những bước chuyển dịch mang tính chiến lược của hệ thống ngân hàng bán lẻ. Theo báo cáo thường niên của Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2012, toàn thị trường có gần 57,1 triệu thẻ thanh toán được phát hành, tăng trưởng 38,5% so với năm 2011. Trong cơ cấu này, thẻ nội địa chiếm áp đảo với tỷ trọng 92,31%. Đáng chú ý, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) vươn lên giữ vị trí quán quân về số lượng phát hành với 12,6 triệu thẻ, chiếm 23,09% thị phần toàn quốc.
Mặc dù quy mô phát hành tăng trưởng vượt bậc, thị trường vẫn đối mặt với nghịch lý lớn khi chỉ có khoảng 50% tổng số thẻ thực sự hoạt động thường xuyên. Đa số chủ thẻ vẫn duy trì thói quen sử dụng thẻ ghi nợ như một công cụ rút tiền mặt tại máy giao dịch tự động (ATM) thay vì thanh toán hóa đơn hay mua sắm tại các điểm chấp nhận thẻ. Điều này dẫn đến sự lãng phí chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ và làm giảm hiệu quả chu chuyển dòng vốn trong nền kinh tế.
Trước thực trạng đó, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố quyết định đến hành vi sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng cá nhân tại VietinBank trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phát hành giai đoạn 2008-2012, nhận diện và đo lường cường độ tác động của các nhân tố chủ quan lẫn khách quan, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thẻ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho hoạt động quản trị bán lẻ của VietinBank tại đô thị kinh tế lớn nhất cả nước mà còn cung cấp hàm ý chính sách thiết thực cho lộ trình đẩy mạnh thanh toán không tiền mặt theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Khung phân tích của luận văn dựa trên nền tảng lý thuyết lựa chọn nhị phân (Binary Choice Model) và mô hình hồi quy Logistic nhị thức (Binary Logistic Regression) do nhà thống kê học David R. Cox phát triển vào thập niên 1970. Theo lý thuyết này, quyết định chấp nhận hoặc từ chối sử dụng một dịch vụ tài chính là biến phụ thuộc mang tính rời rạc, nhận giá trị bằng 1 khi khách hàng quyết định sử dụng thẻ và bằng 0 trong trường hợp ngược lại.
Nghiên cứu kế thừa có chọn lọc mô hình các nhân tố tác động đến ý định và quyết định sử dụng thẻ ATM của tác giả Lê Thế Giới và Lê Văn Huy công bố năm 2006, kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế của Brian Mantel và Timothy McHugh thực hiện tại Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ năm 2001, cùng công trình của Wendy-Yen Teoh và các cộng sự năm 2013 tại thị trường Malaysia. Hệ thống lý luận vận dụng 4 khái niệm nền tảng trong hoạt động ngân hàng hiện đại: Thẻ ghi nợ (Debit Card), Thẻ tín dụng quốc tế (Credit Card), Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT/POS) và Chuẩn bảo mật thẻ chip EMV do liên minh quốc tế phát triển.
Trên cơ sở đặc thù thương mại truyền thống tại Việt Nam, tác giả đã bổ sung biến số thói quen tiêu dùng tiền mặt vào khung phân tích. Mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh xác lập 9 biến độc lập bao gồm: Giới tính, Tình trạng hôn nhân, Độ tuổi, Trình độ học vấn, Mức thu nhập bình quân, Cảm nhận về hạ tầng công nghệ, Đánh giá năng lực phục vụ của cán bộ ngân hàng, Hiệu quả chính sách marketing và Thói quen thanh toán bằng tiền mặt.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Báo cáo thường niên năm 2012 của VietinBank, thống kê chính thức của Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam đến tháng 06/2013 và Báo cáo Thanh toán Thế giới (World Payments Report). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc chuẩn.
Quy trình chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện tại các chi nhánh và phòng giao dịch của VietinBank trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Ban đầu, 250 phiếu khảo sát được phát ra, thu về 228 phiếu, sau quá trình sàng lọc và làm sạch đã chọn lọc được 198 phiếu khảo sát hợp lệ đưa vào phân tích thực nghiệm.
Việc lựa chọn phương pháp hồi quy Binary Logistic trên phần mềm STATA thay vì phương pháp bình phương bé nhất cổ điển (OLS) xuất phát từ bản chất của biến phụ thuộc. Quyết định sử dụng thẻ là biến nhị phân tuân theo phân phối Bernoulli; nếu áp dụng hồi quy tuyến tính thông thường sẽ dẫn đến hiện tượng xác suất ước lượng vượt ra ngoài khoảng từ 0 đến 1 và gây ra sai số phương sai thay đổi. Mô hình Logistic giải quyết triệt để vấn đề này, đánh giá độ phù hợp thông qua chỉ số -2 Log-Likelihood và kiểm định mức ý nghĩa thống kê của từng biến giải thích bằng hệ số Wald trong khung thời gian dữ liệu từ năm 2008 đến tháng 06/2013.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích thống kê mô tả từ 198 mẫu khảo sát thực nghiệm ghi nhận 53,03% khách hàng (105 người) quyết định không sử dụng thẻ thanh toán của VietinBank, trong khi tỷ lệ chấp nhận sử dụng đạt 46,97%. Về cơ cấu nhân khẩu học, nữ giới chiếm tỷ lệ 51% (101 người), độ tuổi bình quân của mẫu là 28 tuổi và phần lớn khách hàng chưa kết hôn. Nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học chiếm ưu thế với mức thu nhập bình quân tập trung phổ biến ở phân khúc dưới 10 triệu đồng mỗi tháng.
Về nhận định chất lượng hạ tầng kỹ thuật, 52,53% người được phỏng vấn (104 người) đánh giá tốt mạng lưới ATM và máy POS của VietinBank. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng khi đa số khách hàng đánh giá thấp năng lực phục vụ, tốc độ hỗ trợ của nhân viên và mức độ hấp dẫn từ các chiến dịch marketing tiếp thị thẻ.
Đến tháng 06/2013, VietinBank nắm giữ 24,99% thị phần thẻ ghi nợ nội địa toàn quốc với 12,8 triệu thẻ E-Partner và dẫn đầu phân khúc thẻ tín dụng quốc tế với 580 nghìn thẻ, tương đương 37,3% thị phần cả nước. Dẫu vậy, doanh số thanh toán thực tế của VietinBank tại các đơn vị chấp nhận thẻ lại xếp thứ ba toàn ngành, thua kém đáng kể so với Vietcombank. Ngoài ra, mặc dù có 55,05% số người tham gia khảo sát (109 người) cho biết đã hình thành thói quen hạn chế sử dụng tiền mặt, khối lượng chi tiêu thực tế qua thẻ vẫn ở mức rất khiêm tốn.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu thực nghiệm của đề tài phản ánh một bức tranh đa chiều có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch cơ cấu phát hành thẻ: thẻ ghi nợ nội địa E-Partner chiếm tới trên 90% tổng lượng thẻ VietinBank, trong khi thẻ ghi nợ quốc tế Visa Debit chỉ chiếm một thị phần nhỏ. Bảng phân tích tương quan và kết quả kiểm định mô hình hồi quy Logistic cho thấy độ tuổi trẻ, mức thu nhập cao và trình độ học vấn tác động cùng chiều mạnh mẽ đến quyết định dùng thẻ. Điều này hoàn toàn tương đồng với phát hiện của các nghiên cứu tại Mỹ và Malaysia khi người tiêu dùng trẻ tuổi luôn có xu hướng tiếp cận công nghệ nhanh chóng hơn.
Nguyên nhân cốt lõi khiến doanh số thanh toán tại POS của VietinBank thấp hơn Vietcombank bắt nguồn từ việc định vị sản phẩm thẻ E-Partner chủ yếu để phục vụ dịch vụ chi trả lương cho doanh nghiệp. Khách hàng xem thẻ như một công cụ rút tiền thuần túy thay vì một phương tiện thanh toán hàng ngày. Thêm vào đó, việc phân tách hai tài khoản độc lập giữa tài khoản thẻ ATM và tài khoản tiền gửi thanh toán tại quầy của VietinBank đã tạo ra sự bất tiện đáng kể, làm giảm trải nghiệm liền mạch của người dùng. Sự chậm trễ trong xử lý tra soát sự cố và thái độ hỗ trợ chưa tận tâm của một bộ phận giao dịch viên cũng trở thành rào cản tâm lý kìm hãm quyết định gắn bó lâu dài của khách hàng với thương hiệu thẻ VietinBank.
Đề xuất và khuyến nghị
Căn cứ vào kết quả định lượng, ngân hàng cần triển khai ngay 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa hoạt động kinh doanh thẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, hợp nhất tài khoản và tái cấu trúc quy trình xử lý giao dịch. Khối Công nghệ và Trung tâm Thẻ VietinBank cần khẩn trương tích hợp tài khoản thẻ E-Partner với tài khoản tiền gửi thanh toán thành một tài khoản duy nhất, loại bỏ sự phức tạp khi khách hàng giao dịch tại quầy. Đồng thời, chuẩn hóa quy trình giải quyết khiếu nại, rút ngắn thời gian xử lý tra soát từ mức 7 ngày làm việc xuống dưới 24 giờ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ giao dịch thẻ thành công tại POS lên trên 98% ngay trong năm 2014.
Thứ hai, đẩy mạnh chiến lược tiếp thị phân khúc và phát triển thẻ liên kết. Phòng Marketing phối hợp với các chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh tập trung khai thác phân khúc khách hàng trẻ có độ tuổi từ 18 đến 35 và mức thu nhập từ 5 đến 18 triệu đồng mỗi tháng. Triển khai các gói sản phẩm thẻ đồng thương hiệu gắn liền với tiện ích đời sống như mua sắm siêu thị, diễn đàn xe hơi, thể thao và thanh toán học phí đại học. Mục tiêu cụ thể là gia tăng tỷ lệ thẻ hoạt động thường xuyên đạt mức tối thiểu 65% trên tổng lượng thẻ phát hành trong vòng 12 tháng tới.
Thứ ba, nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật và tiêu chuẩn an ninh bảo mật. Ban Lãnh đạo VietinBank cần tiếp tục giải ngân nguồn vốn đầu tư công nghệ nhằm chuyển đổi nhanh chóng toàn bộ thẻ từ sang thẻ chip chuẩn EMV, bảo vệ khách hàng trước các nguy cơ giả mạo dữ liệu. Bên cạnh việc quản lý hiệu quả hơn 36.590 máy POS và 1.835 máy ATM hiện có, bộ phận kỹ thuật phải đảm bảo tính ổn định của đường truyền Internet Banking và SMS Banking, giảm thiểu 90% các sự cố gián đoạn đường truyền trong các khung giờ cao điểm vào giai đoạn 2014-2015.
Thứ tư, chuẩn hóa năng lực phục vụ và đào tạo văn hóa chăm sóc khách hàng. Khối Nhân sự cần tổ chức các chương trình tập huấn nghiệp vụ định kỳ hàng quý cho 100% cán bộ giao dịch tại các chi nhánh. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng tư vấn sản phẩm thẻ, thái độ phục vụ thân thiện và khả năng giải tỏa xung đột khi phát sinh lỗi kỹ thuật, nhằm xác lập chỉ số hài lòng khách hàng (CSAT) đạt trên 85%.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hàm lượng dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Nhóm thứ nhất là Ban Lãnh đạo, Khối Quản trị rủi ro và Trung tâm Thẻ của các ngân hàng thương mại. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn trong phân phối sản phẩm thẻ, từ đó hoạch định lại chiến lược phát triển thị phần thẻ bán lẻ và tối ưu hóa chi phí đầu tư mạng lưới máy POS.
Nhóm thứ hai là các chuyên viên nghiên cứu thị trường và thiết kế sản phẩm tài chính bán lẻ. Thông qua các phân tích về hành vi khách hàng cá nhân tại đô thị lớn, chuyên viên có thể ứng dụng các thông số nhân khẩu học để đóng gói các sản phẩm thẻ tích hợp tính năng hoàn tiền, tích điểm phù hợp với từng phân khúc thu nhập.
Nhóm thứ ba là cơ quan quản lý nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đề tài đem đến cái nhìn xác thực về khoảng cách giữa tỷ lệ phát hành thẻ và tỷ lệ sử dụng thẻ thực tế, hỗ trợ các nhà làm chính sách hoàn thiện khung khổ pháp lý, thúc đẩy liên thông hệ thống thanh toán quốc gia theo các đề án không dùng tiền mặt.
Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế bảng hỏi, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện và phương pháp xây dựng mô hình hồi quy Binary Logistic trên phần mềm thống kê STATA.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân vì sao số lượng thẻ VietinBank phát hành dẫn đầu thị trường nhưng doanh số thanh toán lại đứng sau Vietcombank?
Cơ cấu phát hành của VietinBank tập trung quá lớn vào dòng thẻ nội địa E-Partner để trả lương cho công nhân viên chức, khiến khách hàng có thói quen chỉ sử dụng thẻ để rút tiền mặt tại ATM. Ngược lại, Vietcombank phát triển đồng đều các dòng thẻ quốc tế và có mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ độc quyền rộng lớn, thúc đẩy doanh số quẹt thẻ chi tiêu thực tế cao hơn.
Vì sao nghiên cứu bắt buộc phải sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic mà không sử dụng mô hình OLS tuyến tính?
Quyết định dùng thẻ của khách hàng mang tính nhị phân, chỉ nhận một trong hai trạng thái là có sử dụng hoặc không sử dụng. Hồi quy tuyến tính thông thường sẽ khiến xác suất dự báo có thể nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 1, đồng thời vi phạm giả định phương sai đồng nhất. Mô hình Binary Logistic qua phần mềm STATA giúp ước lượng chính xác xác suất lựa chọn trên tập mẫu 198 quan sát.
Hạ tầng công nghệ có phải là rào cản lớn nhất ngăn cản khách hàng dùng thẻ thanh toán hay không?
Không hoàn toàn chính xác. Khảo sát thực nghiệm ghi nhận có tới 104 trên 198 khách hàng đánh giá hệ thống kỹ thuật của ngân hàng ở mức tốt. Rào cản lớn nhất thực tế xuất phát từ sự bất tiện khi phân chia hai tài khoản tiền gửi, sự thiếu hấp dẫn của các chương trình tiếp thị và thái độ phục vụ chưa chuyên nghiệp của nhân viên giao dịch.
Chuẩn thẻ chip EMV mang lại ưu thế bảo mật vượt trội nào so với thẻ băng từ truyền thống?
Thẻ băng từ chứa thông tin cố định trên dải từ nên rất dễ bị thiết bị skimming sao chép đánh cắp dữ liệu. Ngược lại, thẻ chip thông minh EMV có khả năng lưu trữ thông tin gấp 80 lần dải từ, áp dụng cơ chế mã hóa động cho từng giao dịch, ngăn chặn hoàn toàn việc làm thẻ giả và giảm thiểu tối đa tổn thất tài chính cho chủ thẻ.
Khách hàng thuộc nhóm nhân khẩu học nào có xác suất quyết định mở và sử dụng thẻ cao nhất?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đối tượng khách hàng nữ giới, có độ tuổi trẻ trung bình dưới 28 tuổi, trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên và có mức thu nhập hàng tháng ổn định từ 5 đến 18 triệu đồng là nhóm có xác suất quyết định sử dụng thẻ thanh toán cao nhất.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt và khẳng định tính phù hợp của mô hình Binary Logistic trong nghiên cứu hành vi tài chính cá nhân.
- Nghiên cứu đã lượng hóa thành công các nhân tố then chốt từ tập mẫu 198 khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ mối tương quan thuận chiều giữa thu nhập, độ tuổi trẻ với quyết định dùng thẻ.
- Tác phẩm đã bóc tách rõ nét thực trạng nghịch lý của VietinBank khi dẫn đầu với 12,8 triệu thẻ ghi nợ nội địa nhưng doanh số thanh toán qua POS còn rất khiêm tốn.
- Đề tài đã đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, tập trung vào hợp nhất tài khoản, chuyển đổi công nghệ thẻ chip EMV và nâng cấp văn hóa dịch vụ khách hàng trong giai đoạn 2014-2015.
- Đóng góp khoa học của nghiên cứu là tiền đề thực tiễn giúp nâng tỷ lệ thẻ hoạt động thường xuyên lên mức 65%, góp phần hiện thực hóa mục tiêu hiện đại hóa hệ thống thanh toán bán lẻ.
Để gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường thẻ bán lẻ, các nhà quản trị ngân hàng cần khẩn trương chuyển dịch trọng tâm từ việc chạy theo số lượng thẻ phát hành sang việc tối ưu hóa chất lượng trải nghiệm tại từng điểm chạm giao dịch của khách hàng.