CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẻ thanh toán 1. Khái niệm thẻ Theo Giáo trình Ngân hàng thương mại của tác giả Tô Ngọc Hưng (Nhà xuất bản thống kê, 2009), thẻ thanh toán (hay còn gọi là thẻ) là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt thông qua các máy đọc thẻ trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng ký kết giữa Ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Sự phát triển của thẻ thanh toán gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
Hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân, thẻ thanh toán trở thành công cụ quan trọng trong chiến lược phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại. Đặc điểm thẻ Chứa nhiều yếu tố khoa học kĩ thuật hiện đại: Điều này là một mặt là ưu thế, một mặt cũng là rào cản đối với người sử dụng thẻ thanh toán, nhất là đối với các thị trường và phân khúc khách hàng có trình độ dân trí còn hạn chế, đồng thời gây khó khăn cho quá trình chuyển giao công nghệ, quản lý, vận hành và giải quyết các vấn đề phát sinh. Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra cùng lúc: Khi khách hàng sử dụng thẻ cũng là lúc đơn vị cung cấp thực hiện các quy trình, nghiệp vụ, vận hành hệ thống công nghệ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Khó kiểm tra chất lượng khi cung cấp cho khách hàng: Do kết quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó ngoài năng lực của tổ chức cung cấp sản phẩm thẻ còn có điều kiện khác như đơn vị cung cấp thứ 3 (đường truyền, máy móc, dịch vụ bảo hành, bảo trì.
Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 Tính cạnh tranh của sản phẩm thẻ phụ thuộc rất lớn vào các sản phẩm đi kèm khác: Do nhu cầu của khách hàng rất da dạng cho nên dịch vụ thẻ thường được cung cấp trong cùng một gói sản phẩm tổng hợp đến với khách hàng. Trong đó thường gắn liền với sản phẩm tài khoản tiền gửi đối với thẻ ghi nợ và tài khoản tiền vay đối với thẻ tín dụng và dịch vụ thanh toán. Chính vì vậy, việc phát triển và đa dạng của các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến tính cạnh tranh của sản phẩm thẻ. Tính đồng nhất cao: Không giống như các sản phẩm, dịch vụ khác, sản phẩm thẻ mang tính đồng nhất cao, sự khác biệt hoá sản phẩm giữa các ngân hàng trong cùng một khu vực địa lý là có nhưng không nhiều.
Vì vậy, bên cạnh việc cung cấp sản phẩm có nhiều tính năng đến khách hàng thì để có thể tạo nên sự khác biệt so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, các tổ chức phát hành thẻ cần phải đặc biệt quan tâm đến các yếu tố khác như mẫu mã, thương hiệu. Để có thể phát triển sản phẩm thì tính hợp tác là rất quan trọng. Đó là sự hợp tác giữa Ngân hàng phát hành thẻ, Ngân hàng thanh toán thẻ và Đơn vị chấp nhận thẻ do đặc điểm nhu cầu thanh toán là chủ thể tham gia đa dạng (hầu hết các thành phần trong nền kinh tế đều tham gia vào quá trình thanh toán), phạm vi về mặt địa lí ngày càng mở rộng (từ việc thanh toán chỉ trong một khu vực như chợ, siêu thị. thì ngày nay, với sự phát triển của thương mại quốc tế thì việc sử dụng thẻ đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia).
Mặt khác, tính chất của các giao dịch thanh toán ngày càng phức tạp, không chỉ đơn thuần là các giao dịch trao đổi hàng hóa thông thường mà nó có phát triển lên thành các giao dịch kinh tế với việc phát sinh các trách nhiệm và quyền lợi đi kèm. Chính vì vậy để có thể đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đó, điều tất yếu là các tổ chức phát hành và cung cấp dịch vụ thẻ cần phải liên kết với nhau và với các chủ thể thanh toán khác để tạo nên một thị trường chung, đảm bảo quá trình thanh toán thông suốt, minh bạch và hợp pháp. Phân loại thẻ Có nhiều cách để phân loại thẻ, tùy theo tiêu thức phân loại, thẻ thanh toán được chia thành các loại khác nhau: Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 * Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ - Thẻ nội địa: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ phát hành để giao dịch trong phạm vi một nước. Đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ.
Hoạt động của loại thẻ này chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành, từ phát hành, xử lý trung gian cho đến thanh toán. - Thẻ quốc tế: Là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế thuộc Hiệp hội thẻ quốc tế do các ngân hàng và tổ chức phát hành thẻ phát hành trên phạm vi thế giới. Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải được chấp nhận làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ một cách chặt chẽ các quy định phát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ đó ban hành.
Thẻ quốc tế có thể sử dụng ngoại tệ để thanh toán, đồng thời được hỗ trợ quản lý trên khắp thế giới bởi các tổ chức thẻ lớn hoạt động thống nhất, đồng bộ. Vì vậy, thẻ quốc tế rất được ưa chuộng và ngày càng phổ biển. * Căn cứ theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ tín dụng (credit card): Thẻ tín dụng là phương thức thanh toán cho phép nguời sử dụng chi tiêu trước trả tiền sau. Chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp và thanh toán các khoản dư nợ, lãi và phí phát sinh theo quy định.
Tính chất tín dụng của thẻ thể hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Vì vậy, thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu. Điều này thể hiện tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng.
Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng chi trả từng khách hàng. Khả năng chi trả được xác định dựa trên nhiều tiêu chí như: thu nhập, chức vụ, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp … của khách hàng. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 - Thẻ ghi nợ (debit card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán không kỳ hạn của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thẻ ghi nợ cho phép khách hàng kết nối với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM.
Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ. Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra hoạt động tín dụng, khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt để thanh toán, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội so với thẻ tín dụng. *Căn cứ theo đặc tính kỹ thuật Thẻ băng từ: Là loại thẻ mà toàn bộ thông tin về chủ thẻ được mã hóa trong dải băng từ ở mặt sau của thẻ.
Thẻ từ đang chiếm phần lớn trong số thẻ đang được sử dụng trên thị trường. Thẻ từ có nhược điểm là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều và mang tính chất cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hóa an toàn, dễ bị ăn cắp thông tin và lợi dụng để làm thẻ giả hoặc thực hiện các giao dịch giả mạo gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. - Thẻ điện tử có gắn bộ vi xử lý chip: Là loại thẻ hiện đại, ngoài dải băng từ thì thông tin còn được mã hóa trong một con chíp điện tử ở mặt trước của thẻ. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính cho phép mã hóa thông tin khách hàng và tài khoản, tính bảo mật của loại thẻ này là rất cao.
Tuy nhiên cũng vì thế mà thẻ và hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ có giá thành cao, do đó chưa được sử dụng phổ biến như thẻ từ dù các tổ chức thẻ quốc tế luôn khuyến khích các ngân hàng thành viên phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm hạn chế rủi ro do giả mạo thẻ. Ngoài ra, người ta còn có thể phân loại thẻ thanh toán theo mục đích và đối tượng sử dụng thẻ (thẻ trả lương, thẻ sinh viên, .), theo hạn mức của thẻ (hạng thường, hạng sang,. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 1. Vai trò Mặc dù ra đời sau các phương tiện thanh toán khác, thẻ thanh toán ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thanh toán nhờ vào những tính năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.
Đối với người sử dụng thẻ Sự linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán: Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác. Khách hàng có thể thấy rõ điều này khi đi du lịch hay công tác nước ngoài. Thẻ thanh toán như Visa, MasterCard được chấp nhận trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là, khi dự định ra nước ngoài, thay vì phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay séc du lịch, khách hàng có thể mang theo thẻ để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình.
Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn: Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay cả trước, trong và sau chuyến đi.