CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Giới thiệu tổng quan về thẻ thanh toán: 1. Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ thanh toán trên thế giới: Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm 1914. Khi đó, một công ty của Mỹ là Westen Union đã cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, theo đó công ty này phát hành một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi nhằm đảm bảo 2 chức năng: nhận dạng được khách hàng và có thể lưu giữ lại thông tin được in nổi trên mặt tấm thẻ kim loại.
Trong hệ thống ngân hàng, hình thức sơ khai nhất của thẻ là Charge-it, đây là một hình thức mua bán chịu do Flatbush National lập ra. Hệ thống này mở đường cho sự ra đời của thẻ, với những đặc điểm ưu việt nổi trội, nhiều tổ chức tín dụng đã tin tưởng tham gia vào hoạt động này. Sau khi thẻ Diners Club ra đời năm 1949 thì tính đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden Key, Golden Club, Esquire Club,…Đến năm 1958, Carde Balnche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường thẻ. Riêng American Express tự phát hành thẻ và trực tiếp quản lý chủ thẻ, đây là thẻ du lịch và giải trí (T&E) lớn nhất thế giới.
Không chỉ với chức năng chi trả, tấm thẻ này còn được người tiêu dùng xem là biểu tượng địa vị - giấy chứng nhận cho hình ảnh của một người giàu có. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ý nghĩa và hình ảnh mà một thời được biểu tượng bằng những tấm thẻ nhựa xanh nhỏ bé của American Express đã không còn được xem trọng như trước kia. Sự ra đời của hàng loạt thẻ tín dụng khác nhau với ít biểu tượng địa vị hơn nhưng lại mang tính tiện dụng thực tế hơn, đã thực sự đưa người tiêu dùng vào kỷ nguyên của thế giới hiện đại. 5 Đến năm 1966, Bank of American giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của mình mang tên Bank Americard mà sau này phát triển thành Visa.
Cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ Visa Card được lưu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ USD. Cho đến năm 2004, đã có hơn 1,3 tỷ thẻ Visa lưu hành trên toàn thế giới, doanh thu tăng lên đến 2,9 nghìn tỷ USD. Năm 1966, sản phẩm Bank Americard gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt với Master Charge, được thành lập bởi Hiệp hội thẻ liên hàng quốc tế. Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Visa.
Chỉ trong năm 1996, MasterCard đã thực hiện thành công gần 6 tỷ giao dịch và đạt tổng doanh thu trên 675 tỷ USD. Ngày nay, MasterCard và Visa Card là hai loại thẻ lưu hành phổ biến nhất trên thế giới. Thẻ thanh toán dần được xem như là một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ này thay nhau phân chia những thị trường rộng lớn.
Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí (T&E) đầu tiên được phát hành năm 1949 tại Mỹ. Năm 1960, Diners Club là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật bản, chi nhánh được quản lý bởi CitiCop, người đứng đầu trong số ngân hàng phát hành thẻ. Năm 1990 có 6,9 triệu người sử dụng thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số khổng lồ 16 tỷ USD. Hiện nay, thẻ Diners Club được sử dụng rộng rãi trên 150 quốc gia.
Tại châu Á, Nhật bản là quốc gia đầu tiên phát hành thẻ với tên gọi là JCB, đây cũng là loại thẻ du lịch và giải trí do ngân hàng Sanwa phát hành và phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế vào năm 1981. Hiện nay, JCB đã trở thành một trong những tổ chức thẻ mạnh nhất và là đối thủ lớn nhất của Amex trên thị trường T&E card. Thẻ JCB hoạt động theo cơ chế độc quyền, phát hành trực tiếp, không nhận thành viên như tổ chức Visa hay Master. Khái niệm và phân loại thẻ thanh toán: 1.
Khái niệm: Ở các nước có nền kinh tế phát triển với công nghệ ngân hàng hiện đại, thì thẻ thanh toán được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Ở Việt Nam, yêu cầu đẩy nhanh công tác thanh toán, mở rộng phạm vi thanh toán cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác do sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam với việc từng bước trang bị hệ thống thông tin hiện đại tiên tiến đã cho phép áp dụng những công cụ thanh toán mới hiện đại để bổ sung cho những công cụ thanh toán trong nền kinh tế. Chúng ta sẽ cùng xem xét những vấn đề liên quan đến thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán (Payment Card) – còn gọi là thẻ ATM được áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng trong nước và ngoài nước với điều kiện là khách hàng phải lưu ký tiền vào một tài khoản riêng tại ngân hàng, tức là phải ký quỹ trước tại ngân hàng một số tiền (nhưng được hưởng lãi) và được sử dụng thẻ có giá trị bằng số tiền đó để thanh toán.
Hiện tại có nhiều khái niệm về thẻ thanh toán, mỗi khái niệm đều trình bày những khía cạnh về thẻ thanh toán căn cứ trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán: + Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty qua đó chủ thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. + Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. + Trong quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 7 15/05/2007 của NHNN Việt Nam trình bày khái niệm thẻ như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”.
Như vậy, qua việc xem xét các khái niệm trên về thẻ thanh toán chúng ta có thể thấy đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động. Phân loại thẻ thanh toán: Các loại hình thẻ thanh toán rất đa dạng, phong phú. Chúng ta có thể phân loại thẻ dựa trên các tiêu chí sau: Phân loại theo công nghệ sản xuất: thẻ loại này có 3 loại: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua, nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin. - Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. Loại thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ, dữ liệu và thông tin liên quan đến khách hàng sẽ lưu trữ trong bộ nhớ điện tử.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của thẻ chip điện tử khác nhau. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, nó khắc phục được nhiều nhược điểm của thẻ khắc chữ nổi, thẻ băng từ do hạn chế việc sử dụng thẻ giả, 8 đảm bảo tính an toàn cao. Tuy nhiên, chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cũng rất cao. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: - Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay.chấp nhận loại thẻ này.
Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả. Thẻ tín dụng có nhiều loại rất đa dạng: + Thẻ chuẩn (Standard card): là loại thẻ phổ thông được phát hành nhắm tới đối tượng là những người có thu nhập vừa phải. + Thẻ vàng (Gold card): là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ chuẩn.
Khách hàng mục tiêu của loại thẻ này là những người có thu nhập cao, ổn định, có khả năng tài chính mạnh và nhu cầu chi tiêu lớn. + Thẻ hợp tác (Co-branded card): là loại thẻ được phát hành dựa trên sự liên kết giữa ngân hàng phát hành với các cơ sở kinh doanh lớn nhằm quảng bá thương hiệu. Khi sử dụng loại thẻ này, khách hàng sẽ được hưởng ưu đãi về giá và các chương trình khuyến mãi của ngân hàng. - Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi.
Loại thẻ này khi đượcc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn.đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn.Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.