phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyên tƣ duy cho học sinh lớp 4 thông qua hoạt động giải toán có lời văn điển hình. Các biện pháp rèn luyện tƣ duy cho học sinh lớp 4 thông qua hoạt động giải toán có lời văn điển hình. Thực nghiệm sƣ phạm.
7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN TƢ DUY CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN ĐIỂN HÌNH 1. Một số vấn đề chung về tƣ duy 1. Khái niệm về tƣ duy Cho đến nay, khi nhắc đến định nghĩa về tƣ duy thì vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau, vì vậy để hiểu rõ hơn về vấn đề này thì ta cần xét ở nhiều góc độ khác nhau.
* Theo quan niệm của một số tác giả nước ngoài Edward de Bono cho rằng tƣ duy là tài nguyên vốn có, tột cùng của con ngƣời [17/31], bởi vì trong cuộc sống lao động và học tập tƣ duy sẽ tăng thêm hiệu quả công việc, sẽ khẳng định thêm sự tồn tại của chính con ngƣời. Giáo dục tƣ duy là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của hệ thống giáo dục, trong đó có giáo dục tiểu học. Vậy, tƣ duy là gì? Theo R.Nickerson, tƣ duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan trƣớc đó chủ thể nhận thức chƣa biết. Rubinstein cho rằng: “Tƣ duy là “sự thâm nhập vào những tầng mới của bản thể, là giành lấy và đƣa ra ánh sáng những cái vấn đề của thực tại cuốc sống, tìm tòi và giải đáp câu hỏi thực ra nó là nhƣ thế nào, câu trả lời đó cần thiết để biết nên sống thế nào cho đúng và cần làm gì?” [18/34] * Theo quan niệm của một số tác giả trong nước Theo giáo trình tâm lý học của giáo sƣ Phạm Minh Hạc: “ Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết.” [3/67] Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê : “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát triển ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm phán đoán và suy lý.”[6/56] 8 Theo từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối quan hệ của thực tại.”[14/56] Dƣới góc độ giáo dục, có thể hiểu tƣ duy là hệ thống gồm nhiều ý tƣởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện.
Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, tƣ duy là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này nhận đƣợc thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác… Tuy đƣợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhƣng các quan niệm trên đã nêu lên đƣợc bản chất của tƣ duy. Nhƣ vậy, có thể hiểu: “Tƣ duy là một quá trình nhận thức bậc cao ở con ngƣời, phản ánh hiện thực khách quan vào não bộ dƣới dạng khái niệm, phán đoán, suy lý… Tƣ duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức gián tiếp tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa… Kết quả của quá trình tƣ duy là sự nhận thức về một đối tƣợng nào đó ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn.
Hay nói cách khác, tƣ duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng. Các giai đoạn của tƣ duy Tƣ duy xuất hiện nhƣ một quá trình theo quy luật diễn biến của nó. Quá trình này có các giai đoạn kế tiếp nhau: Giai đoạn 1: Xác định vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tƣ duy. Khi gặp tình huống có vấn đề, chủ thể phải ý thức đƣợc nó là tình huống có vấn đề đối với bản thân, phải phát hiện ra mâu thuẫn chứa đựng trong tình huống đó, tạo ra nhu cầu phải giải quyết vấn đề, tìm thấy tri thức đã có trong kinh nghiệm cá nhân có liên quan đến vấn đề, sử dụng các tri thức đó vào giải quyết vấn đề, từ đó đề ra nhiệm vụ tƣ duy.
9 Giai đoạn 2: Huy động các tri thức, vốn kinh nghiệm của bản thân có liên quan đến vấn đề, làm xuất hiện trong não bộ chủ thể tƣ duy những mối liên tƣởng xung quanh vấn đề đang cần giải quyết. Giai đoạn 3: Sàng lọc những liên tƣởng, gạt bỏ những cái không cần thiết, hình thành giả thuyết về vấn đề có thể có. Giai đoạn 4: Hình thành cách giải quyết vấn đề, nêu giả thuyết sai thì phủ định lại nó để hình thành giả thuyết mới, nếu giả thuyết đƣợc khẳng định thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo. Giai đoạn 5: Giải quyết vấn đề đi đến kết quả.
Nhà tâm lý học Nga K. Plalonop nêu lên các giai đoạn của một quá trình tƣ duy theo sơ đồ sau: [7/14] Giai đoạn 1 Nhận thức vấn đề Xuất hiện các liên tƣởng Giai đoạn 2 Sàng lọc liên tƣởng và hình Giai đoạn 3 thành giả thuyết Kiểm tra giả thuyết Giai đoạn Khẳng đinh Phủ định 4 Chính xác Tìm giả thuyết mới hóa Giải quyết vấn đề Giai đoạn 5 Hành động với tƣ duy mới 10 1. Các thao tác tư duy cơ bản 1. Thao tác tư duy phân tích Phân tích là một thao tác tƣ duy diễn ra trong đầu của chủ thể nhận thức nhằm tách ra những thuộc tính, những bộ phận, những đặc điểm, tính chất của đối tƣợng đƣợc tƣ duy để nhận thức đối tƣợng sâu sắc hơn [7/14].
Nói cách khác, phân tích là thao tác tƣ duy nhằm chỉ ra các đặc điểm, tính chất, thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng cho trƣớc. Khi đứng trƣớc một bài toán yêu cầu: Tuổi bố và tuổi con cộng lại đƣợc 58 tuổi. Bố hơn con 38 tuổi. Hỏi bố bao nhiêu tuổi, con bao nhiêu tuổi? [1/47] Với bài toán trên, kiểu phân tích đi lên đƣợc thể hiện nhƣ sau: - Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Tìm tuổi bố, tuổi con) - Bài toán thuộc dạng gì ( Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó) - Đâu là tổng? (58 tuổi) - Đâu là hiệu? (38 tuổi) - Tìm số lớn bây giờ chính là tuổi của ai (Tuổi của bố).
Số bé là tuổi của ai (Tuổi của con) - Muốn tìm tuổi bố ta làm thế nào? (Tìm hai lần tuổi bố sau đố chia cho 2) Hai lần tuổi bố có chƣa? (Chƣa). Tìm đƣợc không? (Đƣợc) Bằng cách nào? (Lấy 58+ 38) - Muốn tìm tuổi của con ta làm thế nào? ( Tuổi bố trừ đi 38 hoặc tổng trừ đi tuổi bố) 11 Sơ đồ phân tích nhƣ sau: Tuổi bố, tuổi con? Tuổi bố? Tuổi con? (96 : 2 = 48 (tuổi) (Tuổi bố - 38) Hai lần tuổi bố : 2 48 – 38 = 10 (tuổi) Hai lần tuổi bố 58 + 38 = 96 (tuổi) * Phân tích đi xuống (suy ngược tiến) Giả sử có A, từ A suy ra A1 tức là A suy ra A1, rồi từ A1 suy ra A2,…., An-1 suy ra An. Khi gặp An là phán đoán sai thì dừng lại vì khi đó chắc chắn A sai. Còn nếu An đúng thì chƣa chắc đã có kết luận gì vì A có thể sai hoặc đúng.
Để giải đƣợc bài toán trên thì học sinh sẽ tiến hành phân tích đi xuống nhƣ sau: - Bài toán cho biết gì? (Tuổi bố và tuổi con cộng lại đƣợc 58 tuổi. Bố hơn con 38 tuổi) - Từ dữ liệu bài toán đã cho ta biết đƣợc điều gì? (tổng là 58. Hiệu là 38) - Có tổng, có hiệu ta tìm đƣợc gì? (Hai lần tuổi bố) - Muốn tìm hai lần tuổi bố ta làm gì? (Lấy 58+ 38) - Có hai lần tuổi bố ta tìm đƣợc tuổi bố không? (Đƣợc). Bằng cách nào? (Lấy 2 lần tuổi bố : 2) - Có tuổi của bố ta tìm đƣợc tuổi con không? (Đƣợc).
Bằng cách nào? ( Lấy tuổi bố trừ đi 38 hoặc lấy tổng trừ đi tuổi bố) 12 Sơ đồ phân tích nhƣ sau: Tuổi bố + tuổi con : 58 tuổi Bố hơn – tuổi con = 38 Hai lần tuổi bố 58 + 38 = 96 tuổi Tuổi bố (96 : 2 = 48 tuổi Tuổi con (48 – 38 = 10 (tuổi) Thao tác tƣ duy phân tích thƣờng đƣợc diễn ra nhiều nhất trong 2 bƣớc của quá trình giải toán đó là: tìm hiểu đề bài toán và lập kế hoạch giải toán. Khi tìm hiểu đầu bài toán cũng nhƣ lập kế hoạch giải toán, ngƣời HS phải thực hiện một chuỗi các thao tác tƣ duy phân tích ở trong đầu nhằm tách bạch một cách rõ ràng đâu là dữ kiện (cái đã cho) và đâu là ẩn số (cái phải tìm), đâu là điều kiện của bài toán (tức là mối liên hệ giữa các dữ kiện với nhau và với ẩn số). Quá trình phân tích có thể diễn ra đơn giản hay phức tạp còn phụ thuộc vào từng bài toán cụ thể và năng lực phân tích của từng HS. Kết quả đạt đƣợc sau khi phân tích là: giúp ngƣời học phát triển ra hƣớng giải quyết bài toán hoặc nhận ra bài toán thuộc dạng toán nào.
Cũng từ đây khả năng phân tích của ngƣời học đƣợc rèn luyện và ngày càng phát triển. Thao tác tư duy tổng hợp Tổng hợp là thao tác tƣ duy trong đó chủ thể tƣ duy dùng trí óc gộp những thuộc tính, những thành phần của đối tƣợng tƣ duy thành một chỉnh thể, từ đó nhận thức về đối tƣợng đƣợc bao quát hơn.