chương I“Chuyển hóa vật chất và năng lượng” và các tài liệu có liên quan Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Những năm gần đây, đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá người học, với các biện pháp tổ chức cho học sinh hoạt động tự lực, chủ động khám phá ra kiến thức mới đã trở thành xu hướng của nhiều Quốc gia trên thế giới nói chung và khu vực nói riêng. Trên thế giới Theo như Jerome Bruner( 1915) là người có ảnh hưởng rất lớn tới việc nghiên cứu học tập khám phá.
Theo ông học tập khám phá là lối tiếp cận mà qua đó học sinh được tương tác với môi trường của họ bằng cách khảo sát và thực hiện các đối tượng, giải đáp thắc mắc và tranh luận hay biểu diễn thí nghiệm và tất nhiên khi tự khám phá ra tri thức, các khái niệm học sinh sẽ hiểu rõ vấn đề và từ đó nhớ được lâu và nhiều hơn. Vào những năm 20 ở Anh đã hình thành những “ nhà trường mới” trong đó đề ra phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Khuyến khích các biện pháp tổ chức hoạt động do chính học sinh tự lực khám phá kiến thức, chính học sinh tự quản trong học tập. Xu hướng này nhanh chóng ảnh hưởng sang Mĩ và các nước Châu Âu.
Ở Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai, ra đời những “Lớp học mới”. Tại một số trường trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tuỳ thuộc vào sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh. Giáo viên là người giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh, hướng vào sự phát triển nhân cách của học sinh. Trong những năm 1970 đến 1980, bộ giáo dục Pháp chủ trương khuyến khích áp dụng các biện pháp giáo dục để tăng cường các hoạt động chủ động, tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh, chỉ đạo áp dụng phương pháp này từ sơ học, tiểu học lên trung học.
Định hướng giáo dục 10 năm của Pháp (1989) ghi rõ: “Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy học sinh làm trung tâm”. Ở Mỹ năm 1970 đã xuât hiện ý tưởng dạy học cá thể hoá và đã được đưa vào thử nghiệm ở gần 200 trường. Trong đó giáo viên xác định mục tiêu cung cấp các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phiếu hướng dẫn để học sinh tiến hành hoạt động tự lực, tự khám phá ra kiến thức mới theo nhip độ phù hợp với năng lực. Vào nửa sau của những năm 1950, ở một số nước XHCN trước đây như Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan… đã có các nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy phải tích cực hoá quá trình dạy học, trong đó cần có những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá kiến thức.
Điển hình cho hướng nghiên cứu đó là: B.A Crupxkaia (Liên Xô cũ) Như vậy, quan niệm về DHKP trên thế giới được xuất hiện từ rất lâu và theo thời gian chúng cũng được hiểu và thực hiện khám phá trong học tập theo những cách khác nhau tuy nhiên chúng đều hướng tới tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh giúp học sinh phát triển các năng lực về tư duy và các kĩ năng khác. Trong nước Vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo khám phá ra kiến thức mới đã được đặt ra. Nhưng các nghiên cứu mới chỉ hạn chế về mặt lí thuyết. Từ năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực khám phá ra kiến thức mới được quan tâm, nghiên cứu đồng bộ cả về lí thuyết và thực hành, trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971); “ Kiểm tra lại kiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân (1974).
Cũng trong thời gian này một số tài liệu nước ngoài đã được dịch để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các trường Sư phạm như: “Những cơ sở lí luận của dạy học nêu vấn đề” của tác giả Ôkôn (1976). Sau nghị quyết Trung ương IV khoá VII (tháng 2/1993), nghị quyết Trung ương II khoá VIII (tháng 12/1996), và gần đây nhất là nghị quyết Trung ương VI khoá IX (4/2002) của Đảng, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đã trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học, đó là giáo viên phải có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá nói riêng đã được triển khai mạnh mẽ cả về lí thuyết và ứng dụng. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều tài liệu đã được công bố, xuất bản.
Điển hình là các công trình nghiên cứu lí thuyết của các tác giả: Nguyễn Kỳ: “Phương pháp giáo dục tích cực” (1994); “Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực” (1994). Trần Bá Hoành: “Dạy học lấy người học làm trung tâm” (1993); “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Song song với các nghiên cứu lí thuyết, cũng có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các biện pháp tổ chức học sinh học tập tự lực khám phá kiến thức trong dạy học ở tất cả các môn trong trường phổ thông. Trong lĩnh vực dạy học sinh học phần các qui luật di truyền cũng có các công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Trần Bá Hoành: “Rèn trí thông minh cho học sinh qua chương biến dị, di truyền” (1972); “Một số cơ sở lí thuyết của các phương hướng cải cách môn Sinh học THPT” (7/1996); “Phát huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học 12” (1985); “Nâng cao chất lượng giảng dạy các kiến thức qui luật trong chương trình sinh học đại cương lớp 11-12” (Trần Bá Hoành và Nguyễn Đức Thành) (1986).
Đinh Quang Báo: “Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài sinh học ở trường phổ thông ở Việt Nam” (1981); “Dạy học sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học” (Kỷ yếu hội thảo khoa học) (1/1995). Nguyễn Đức Thành: “Dạy bài liên kết gen bằng con đường suy diễn lí thuyết” (1986); “Nâng cao chất lượng giảng dạy các qui luật di truyền” (1989). Lê Đình Trung: “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình sinh học THPT” (1994). Một số luận văn có liên quan đến đề tài như: “ Dạy học hình học các lớp cuối cấp THCS theo bước đầu tiếp cận phương pháp khám phá”( Lê Võ Bình, 2006); “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong phần địa lí lớp 4 ở cấp tiểu học”( Lê Thị Hoa, 2007); Vận dụng phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn trong dạy học môn toán lớp 4” ( Phạm Thị Hiếu, 2008); “ Vận dụng dạy học khám phá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong dạy học chương II “ Tính quy luật của hiện tượng di truyền, Sinh học 12” (Nguyễn Thị Yến, 2010) Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về tính tích cực nhận thức, học tập của học sinh nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lí luận của phương pháp DHKP và quy trình DHKP cho môn Sinh học 11 nói chung và chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng”, nói riêng 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Một số quan niệm về dạy học khám phá Geoffrey Petty [4] tổng kết thành hai cách tiếp cận trong dạy học đó là dạy học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. Trong dạy học bằng cách giải thích, học sinh được giáo viên giảng kiến thức mới, học sinh phải sử dụng và ghi nhớ những kiến thức mới này. Còn với cách dạy học bằng cách đặt câu hỏi, giáo viên đặt câu hỏi hoặc ra bài tập yêu cầu học sinh phải tự tìm ra kiến thức mới, mặc dù vậy vẫn có sự hướng dẫn hoặc chuẩn bị đặc biệt.
Kiến thức mới này được giáo viên chỉnh sửa và khẳng định lại. Khám phá có hướng dẫn là một ví dụ của cách tiếp cận thứ hai này. Dạy học khám phá chỉ có thể được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình. Tác giả lưu ý rằng, tìm thông tin trong sách không phải là cách học khám phá.
Các hoạt động khám phá thường được tiến hành theo nhóm. Chúng đòi hỏi phải có kỹ năng tư duy cao để tìm ra cái mới, và vì người học tự tìm tòi vấn đề cho nên việc học có chất lượng cao. Một thành viên của nhóm có thể cung cấp một phần của “bộ xếp hình” về những hiểu biết về chủ đề đang nghiên cứu. Theo Geoffrey Petty phương pháp khám phá nếu áp dụng đúng sẽ: - Tích cực, khuyến khích được học sinh tham gia, có tính động viên cao và vui.
Phần đặt câu hỏi làm tăng tính hiểu biết và hứng thú của học sinh đối với môn học; - Buộc học sinh phải “tự tìm hiểu”, tức là phải tự nắm bắt vấn đề đang học. Kết quả là các em sẽ hiểu vấn đề, mối liên quan của nó tới bài học trước và các em nhớ lâu hơn; 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làm cho học sinh phải có tư duy tốt: đánh giá, tư duy có suy xét, giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp… Ngược lại, những phương pháp lấy giáo viên làm trung tâm thường hướng học sinh tới những kỹ năng ít phải tư duy như ngồi nghe giảng và cố hiểu bài; - Khuyến khích học sinh coi việc học là công việc của bản thân hơn là việc của các chuyên gia làm hộ các em; - Làm cho học sinh học mà vui, tự tìm ra câu trả lời cho mình. Thêm vào đó, một điều gây nhiều tranh luận là phương pháp này phát triển được động cơ (học tập) bên trong chứ không phải là động cơ bên ngoài.Richard Suchman, một trong những người nghiên cứu chương trình dạy học khám phá được sử dụng rộng rãi khắp nước Mỹ, khám phá là việc mọi người tự tìm hiểu về môi trường của mình.