phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận án gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn. Một số BP rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trƣờng phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán. Thực nghiệm sƣ phạm.
9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những nghiên cứu về ứng dụng CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng là rất nhiều. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài liên quan đến việc đào tạo GV ứng dụng CNTT trong dạy học gồm ba hƣớng sau đây: - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về các trở ngại (barriers) đối với việc đưa CNTT vào trường học.
Để tăng cƣờng và cải thiện việc tích hợp CNTT trong dạy học, việc xác định các rào cản đối với quá trình này là cần thiết, để làm cơ sở cho các giải pháp vƣợt qua. Các nghiên cứu đã khẳng định, có 2 rào cản lớn nhất đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đó là năng lực của GV (yếu tố chủ quan) và thiếu trang thiết bị (yếu tố khách quan) (Guha, 2003; Pelgrum, 2001) [90], [97]. Vấn đề thiết bị có thể giải quyết đƣợc từ nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau, nhƣng trƣớc khi đầu tƣ thiết bị thì ngƣời GV phải đƣợc đào tạo về ứng dụng CNTT trong dạy học. Ngƣời ta nhận ra rằng chiếc máy vi tính (MVT) để nơi góc lớp sẽ mãi nằm im nếu GV không biết cách sử dụng chúng trong dạy học nhƣ thế nào (Guillermo E.
Hỗ trợ GV phải là bƣớc đầu tiên trong quá trình đƣa CNTT vào nhà trƣờng. Yếu tố GV ở đây gồm cả cán bộ quản lý và GV bộ môn (Snoeyink. “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trường học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu GV không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Chính các GV mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc MVT” (Craig Barrett, Nguyên Tổng Giám đốc tập đoàn Intel).
Nghiên cứu của Ertmer (1999) [87] đã chỉ ra, sự tin tƣởng của GV về sự phù hợp giữa CNTT với môn họ dạy có thể làm tăng lên hoặc giảm đi rất nhiều những yếu tố trở ngại khác. Có những nghiên cứu chỉ ra rằng thậm chí có những GV vẫn quan niệm rằng công nghệ không làm tăng hiệu quả học tập (Yuen. Sự thiếu 10 thốn về thiết bị chỉ là cái cớ để che đi những cản trở có nguồn gốc chủ quan từ chính GV. Quan niệm MVT là rất khó sử dụng đã gây cho GV sự thiếu tự tin và điều này còn gây khó khăn hơn rất nhiều so với việc thiếu phần cứng hay phần mềm (Snoeyink.
Rõ ràng là thái độ đã ảnh hƣởng đến việc ứng dụng CNTT của GV (Guha, 2003) [90]. Nhƣng có nghiên cứu cũng nêu rõ, kinh nghiệm từng sử dụng MVT sẽ có ảnh hƣởng tích cực đến thái độ của GV. Những kinh nghiệm tiêu cực (nagative) sẽ ảnh hƣởng đến quan niệm về mức độ dễ sử dụng và mức độ tƣơng thích của CNTT trong dạy học. Lo lắng về CNTT và ngại thay đổi là yếu tố chính hạn chế GV ứng dụng CNTT trong dạy học.
Hay nhƣ Simonson và cộng sự đã khẳng định (dẫn theo J. Hirschbuhl) [94]: thái độ tích cực và không lo sợ đối với MVT là yêu cầu cần thiết đầu tiên cho việc học tập CNTT. Cho nên việc đào tạo GV về tích hợp CNTT trong dạy học là một giải pháp cơ bản để giúp họ vƣợt qua rào cản có yếu tố chủ quan nêu trên. Việc đào tạo giúp GV có hiểu biết, có KN tốt hơn và nhƣ vậy giúp họ có thái độ và tinh thần tốt hơn.
& Higgs, J (1997) [88] đã khẳng định chính vì thiếu đào tạo (cả chính quy và tự đào tạo) là một nguyên nhân làm GV trở thành trở ngại của chính mình trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Tuy nhiên, trong khi thiếu sự đào tạo là một trong những nguyên nhân chính ảnh hƣởng đến GV (Guha, 2003) [90], nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều điểm yếu trong việc thiết kế và thực hiện các khóa đào tạo GV về lĩnh vực này. Bằng việc chỉ tập trung vào các KN CNTT đơn thuần, các khóa đào tạo đã không đạt đƣợc yêu cầu là tăng khả năng tích hợp CNTT vào dạy học cho GV (VanFossen, 1999) [103]. Nhiều nghiên cứu về tích hợp CNTT vào dạy học cũng đã khẳng định cụ thể hơn về tính hiệu quả của học KN công nghệ.
Đó là việc đào tạo KN công nghệ theo hƣớng tích hợp với kiến thức chuyên môn của GV thì có hiệu quả cao hơn là chỉ tập huấn KN tin học đơn thuần cho họ. Nghiên cứu khảo sát toàn quốc Hoa Kỳ đăng trên Tuần báo Giáo dục ngày 23/9/1999 về việc sử dụng công nghệ của GV, do tổ chức Nghiên cứu Thị trƣờng Giáo dục tiến hành trên 15.000 GV cho thấy: chỉ có 25% GV đƣợc tập huấn KN CNTT đơn thuần là đủ tự tin ứng dụng vào giảng dạy và tỉ lệ này cũng đúng bằng với số GV chƣa hề qua tập 11 huấn. Ngƣợc lại, có đến 37% GV đƣợc tập huấn theo dạng tích hợp công nghệ với chuyên môn của họ lại ứng dụng vào giảng dạy. Một phân tích khác nữa cho thấy: 51% GV qua tập huấn KN tin học đơn thuần cảm thấy tự tin hơn khi soạn bài, trong khi có đến 65% số GV đƣợc tập huấn KN CNTT theo cách tích hợp với chuyên môn cảm thấy việc soạn bài đạt đƣợc hiệu quả cao hơn.
Bên cạnh đó, theo báo cáo của Hội đồng phát triển nhân lực quốc gia Hoa Kỳ thì bất cứ khóa tập huấn nào cho GV sẽ đạt đƣợc hiệu quả hơn khi có các tính chất nhƣ: tính chất gắn vào công việc; liên quan chặt chẽ với chuyên môn; tính lâu dài và liên tục; tập trung vào các hoạt động trong lớp học và có môi trƣờng cộng tác tốt để có nhiều cơ hội cho việc học tập lẫn nhau. - Hướng thứ hai: Nghiên cứu về đào tạo CNTT cho SV sư phạm (pre-service teacher). Đối với đào tạo giáo sinh ở các trƣờng Sƣ phạm thì vấn đề cơ sở hạ tầng cũng là khó khăn (Murphy & Greenwood, 1998) [95]. Nhƣng có lẽ khó khăn lớn hơn là các giảng viên hƣớng dẫn họ lại có ít kinh nghiệm sử dụng CNTT trong dạy học để có thể thực hiện các chƣơng trình đào tạo (Simpson và cộng sự 1999) [99].
Và nhƣ một hậu quả, các giáo sinh thiếu đi các mô hình mẫu cho họ về việc tích hợp CNTT trong dạy học, đƣa đến một mâu thuẫn giữa những mong đợi đối với họ với thực tế hoạt động. Việc sử dụng CNTT trong quá trình dạy học của các giảng viên là yếu tố quan trọng đóng góp cho việc hình thành khả năng ứng dụng CNTT cho SV sƣ phạm. Hay nói theo Mehlinger and Powers (2002) (dẫn theo Engin Kursun) [86], “GV sẽ dạy theo cách mà họ đã được dạy”. Điều này cũng đúng với nghiên cứu của Cuckle và cộng sự 2000 [84] khi nghiên cứu ảnh hƣởng của đào tạo phổ thông tới khả năng sử dụng CNTT của giáo sinh sau này.
Nghiên cứu cho thấy nếu SV sƣ phạm đã bị “vỡ mộng” (disillusioned) về việc sử dụng CNTT của GV khi ở phổ thông thì điều này có thể ảnh hƣởng lâu dài tới thái độ tiêu cực của họ. Một giải pháp khác cũng đƣợc đƣa ra trong việc phát triển cho GV tƣơng lai năng lực công nghệ đó là trang bị máy tính xách tay cho SV. Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ đã cho thấy những SV đƣợc trang bị thì nhận thức của họ về PMDH, về khả năng 12 tích hợp CNTT trong dạy học và sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các SV tăng lên. Song rõ ràng giải pháp này không phải ở đâu cũng làm đƣợc.
Nghiên cứu của Cher Ping Lim (2006) [83] cũng chỉ rõ việc đào tạo các giáo sinh cũng không thể kỳ vọng họ có đầy đủ năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học ngay, sự đào tạo nối tiếp sau tốt nghiệp (khi họ là GV phổ thông) là cần thiết. Về những nguyên tắc đào tạo KN CNTT cho giáo sinh, Hiệp hội CNTT và đào tạo GV (The Society for Information Technology and Teacher Education - SITE - 2002) (Dẫn theo UNESCO) [102] đã khẳng định, đó là: công nghệ cần đƣợc hòa trộn (infused) hoàn toàn vào chƣơng trình đào tạo; công nghệ cần đƣợc giới thiệu trong bối cảnh; SV cần đƣợc trải nghiệm môi trƣờng học tập đổi mới với sự hỗ trợ của công nghệ trong chƣơng trình đào tạo của họ. - Hướng thứ ba: Nghiên cứu về đào tạo CNTT cho GV phổ thông (in-service teacher). Đối với GV phổ thông các nghiên cứu cho thấy ngoài ảnh hƣởng của thiết bị thì ngƣời quản lý (hiệu trƣởng) có ảnh hƣởng mạnh đến sự tiến bộ của GV (Ofsted, 2002) [96].
Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ, chia sẻ ngang hàng (peer support) giữa các đồng nghiệp đối với việc sử dụng CNTT của họ. Những mối quan hệ đồng nghiệp giữa các GV rất có giá trị đối với việc phát triển chuyên môn. Trong nghiên cứu của Granger (2002) [89] cho thấy, các GV đã nhận đƣợc rất nhiều trong việc học tập không chính thống này. Các thảo luận trong công việc, sự hợp tác với đồng nghiệp thì hữu ích hơn rất nhiều so với các khóa đào tạo chính thống.
Các mối quan hệ hợp tác giữa các GV có thể phát triển thành một cộng đồng chuyên môn có tính hỗ trợ cao đối với GV khi sử dụng công nghệ trong dạy học. Có một mối quan hệ hai chiều giữa việc sử dụng CNTT hiệu quả với các cộng đồng chuyên môn này (Dexter, 2002) [85]: công nghệ làm cho việc hợp tác đƣợc dễ hơn và sự hợp tác khuyến khích việc ứng dụng CNTT vào dạy học. Hơn nữa việc chia sẻ giữa các đồng nghiệp này chính là thực hiện mô hình học tập “kịp thời” (“Just in time” learning) và nó hiệu quả hơn so với mô hình “phòng khi” (“Just in case” learning). Mô hình “phòng khi” nghĩa là trang bị cho học viên KN mà có thể 13 họ cần dùng sau này (xong cũng có thể không cần dùng), còn mô hình “kịp thời” là chỉ trang bị KN khi họ có nhu cầu sử dụng KN đó.
Song, trong nghiên cứu của Granger (2002) [89] cũng đã khẳng định nếu chỉ sử dụng mô hình chia sẻ đồng nghiệp không thôi thì không đủ. GV cần phải có các cơ hội đƣợc đào tạo chính thống và có thời gian để họ tự khám phá những gì họ đã đƣợc học.