phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. ơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng dạy học tích hợp môn Toán ở trường THPT; Chƣơng 2. Tìm hiểu thực trạng về kĩ năng dạy học tích hợp của giáo viên toán ở trường THPT; Chƣơng 3. Biện pháp rèn luyện các kĩ năng dạy học tích hợp cho giáo viên môn Toán ở trường THPT; Chƣơng 4.
Thực nghiệm sư phạm. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN TOÁN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan 1. Kĩ năng, kĩ năng nghề nghiệp Có nhiều cách định nghĩa về KN, tùy vào cách tiếp cận.
Theo Từ điển tiếng Việt: “KN là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận đƣợc trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [46]. Theo Từ điển Oxfort [75], “KN là khả năng để làm tốt một công việc nào đó thƣờng có đƣợc qua đào tạo hoặc kinh nghiệm. Theo đó, KN đƣợc hiểu là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó”. Theo Từ điển Giáo dục học [24], KN đƣợc phân chia thành 2 bậc: KN bậc thấp và KN bậc cao.
KN bậc thấp là khả năng thực hiện đúng hành động, ph hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể. Ở bậc này có những KN hình thành không cần tập luyện, nếu tận dụng hiểu biết tốt và KN tƣơng tự đã có để chuyển sang các hành động mới. KN bậc cao là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo linh hoạt, sáng tạo ph hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau. Để đạt tới KN này cần trải qua giai đoạn luyện tập các KN đơn giản, sao cho mỗi khi hành động, ngƣời ta không còn bận tâm nhiều đến thao tác nữa vì nhiều thao tác đã tự động hóa.
Trong [31], tác giả Lê Văn Hồng và các cộng sự đã nhìn nhận dƣới góc độ tâm lí cho rằng: KN là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ. Theo tác giả Đặng Thành Hƣng [36], KN là dạng hành động tự giác, đƣợc thực hiện có kĩ thuật, dựa và những điều kiện sinh học, tâm lí và xã hội ở cá nhân và có kết quả nhất định đáp ứng mục tiêu hay chuẩn đã định trƣớc. Có kĩ thuật tức là không t y tiện, mà tuân theo trình tự, qui tắc và yêu cầu kĩ thuật. 8 Luật Phát triển KN nghề nghiệp của Malayxia [71] có ghi: KN đƣợc hiểu là có thể học và rèn luyện đƣợc để giúp con ngƣời thực hiện thành thạo một nhiệm vụ hay một công việc.
Theo Luật TESDA 1994 của Philippines [72] thì: KN có thể học và rèn luyện đƣợc để thực hiện tốt một nhiệm vụ hay một công việc. Qua tổng hợp các tài liệu cho thấy, các tác giả nhìn nhận về KN theo các hƣớng: (1) Kĩ thuật của hành động (nhƣ V.), ở đây các tác giả coi việc nắm các cách thức hành động là có KN; (2) Xem KN nhƣ một sự biểu hiện của năng lực, nhân cách (nhƣ K.), trong này các tác giả đã chú trọng đến mặt kết quả của hành động trong sự liện hệ giữa mục đích, phƣơng tiện, điều kiện và phƣơng pháp tiến hành hành động; (3) KN là sự vận dụng những tri thức, các kĩ xảo vào việc lựa chọn và thực hiện những cách thức hành động đã đặt ra (nhƣ A.Itelxơn), dẫn theo [60]. Từ phần trên cho thấy rằng còn có những cách hiểu khác nhau về KN do có những cách tiếp cận không nhƣ nhau, nhƣng có thể rút ra một vài đặc điểm chung về KN nhƣ sau: - KN là quá trình tâm lý, là tổ hợp của hàng loạt các yếu tố hợp thành nhƣ tri thức, KN, kỹ xảo đã có; khả năng chú ý, tƣ duy….; - KN có tính linh hoạt và có thể di chuyển từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác; KN có tính kĩ thuật, tức là có cấu trúc, thao tác và trình tự tổ chức. - KN đƣợc hình thành do rèn luyện, trong quá trình hoạt động của con ngƣời.
KN ở một hoạt động đƣợc thể hiện bằng những phẩm chất nhƣ tính chính xác, tốc độ thực hiện hành động, khả năng thực hiện độc lập công việc, tính linh hoạt, hành động hợp lý, trong các hoàn cảnh khác nhau. Hơn nữa, theo Platonov K. [77], KN đƣợc hình thành qua 05 giai đoạn chính là: - iai đoạn 1 (bắt chước): Hình thành KN sơ đang, hành động theo mẫu, khi điều kiện làm việc thay đổi thì gặp nhiều sai sót hoặc không hoàn thành công việc. 9 - iai đoạn 2 (làm được): Hiểu nhiệm vụ, quy trình làm việc nhƣng thao tác còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn.
- iai đoạn 3 (làm chính xác): Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng. Tuy nhiên, còn mang tính riêng lẻ, các KN này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau, chang hạn: KN kế hoạch hóa hoạt động, KN tổ chức hoạt động, … - iai đoạn 4 (làm thành thục): KN gần nhƣ đƣợc tự động hoá. Trong giai đoạn này, con ngƣời sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết, kĩ xảo và đã có ý thức không chỉ mục đích hành động mà cả động cơ lựa chọn cách thức đạt mục đích. - iai đoạn 5 (làm biến hóa): Thể hiện khả năng di chuyển KN sang các tình huống mới hoặc hình thành các KN phức tạp (Hình 1.
Các giai đoạn hình thành kĩ năng 10 Qua điểm lại nhƣ trên cho thấy: Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về KN nhƣng các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng KN là một quá trình tâm lý, đƣợc hình thành khi con ngƣời áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. KN có đƣợc do quá trình lặp đi lặp lại một hành động cụ thể hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. KN theo nghĩa hẹp hàm chỉ đến các thao tác, hành động cụ thể của con ngƣời. KN hiểu theo nghĩa rộng hƣớng nhiều đến khả năng, đến năng lực của con ngƣời.
Ngƣời có KN nào đó phải có kiến thức về hành động đó, bao gồm hiểu đƣợc mục đích của hành động, các điều kiện, phƣơng tiện đạt mục đích, các cách thức thực hiện hành động; Tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; Đạt đƣợc kết quả đúng với mục đích đề ra; Có thể hành động có kết quả trong những điều kiện khác. Từ đó, có thể hiểu rằng: KN là khả năng vận dụng kiến thức và kinh nghiệm thực hiện thành thạo các thao tác trong quá tr nh hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Trong luận án này chúng tôi tiếp cận KN theo hƣớng là kiến thức trong hành động, giúp con người thực hiện hiệu quả công việc, nhiệm vụ. Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội [46].
Nghề nghiệp theo nghĩa Latinh (Professio) có nghĩa là công việc chuyên môn đƣợc định hình một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con ngƣời tồn tại và phát triển. Trong cuốn sách “Nay đi học, mai làm gì?”, tác giả Klimov E. khang định: Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng lao động vật chất và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội, nó tạo cho con ngƣời khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phƣơng tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển [22]. 11 Trong [32] tác giả chỉ ra rằng: Nghề nghiệp là một dạng lao động, đòi hỏi ở con ngƣời một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, KN, kĩ xảo chuyên môn nhất định.
Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con ngƣời có thể tạo ra sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội. Theo đó, nghề nghiệp có nghĩa là công việc chuyên môn đƣợc định hình một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con ngƣời tồn tại, phát triển. Cũng theo [32], chúng ta có thể hiểu về nghề dạy học và các đặc điểm của nghề dạy học nhƣ sau: - Mục đích hình thành cho thế hệ trẻ những phẩm chất và năng lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. - Ngƣời làm nghề DH nói chung, GV nói riêng, phải có những kiến thức, KN, kĩ xảo về môn học mà bản thân đƣợc đào tạo để giảng dạy.
- Đối tƣợng của DH chính là con ngƣời với những nhân cách xác định, tồn tại và phát triển nhƣ là một thực thể xã hội, có ý thức, chủ động tiếp thu sự giáo dục. - Công cụ lao động của nghề DH bao gồm: Hệ thống tri thức mà GV sẽ truyền dạy cho HS. Hệ thống các dạng hoạt động đƣợc tổ chức theo những mục đích sƣ phạm nhất định. Những phƣơng tiện, thiết bị vật chất và kĩ thuật phục vụ cho DH và giáo dục.
Nhân cách của chính bản thân ngƣời GV. Tập thể HS và tổ chức xã hội. - Sản phẩm của nghề DH là nhân cách của những con ngƣời chuẩn bị cho đi vào cuộc sống, lao động sản xuất, theo mục đích giáo dục đã định. Sản phẩm này có thể thay đổi sao cho đáp ứng, phù hợp với nhu cầu của xã hội.
12 Nhân cách đƣợc hiểu là tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi ngƣời. - Hệ thống những KN đảm bảo mọi hoạt động giáo dục của ngƣời GV đạt hiệu quả: Nhóm KN thiết kế; Nhóm KN tổ chức; Nhóm KN giao tiếp; Nhóm KN nhận thức; Hệ thống những KN chuyên biệt (Nhóm KN giảng dạy, nhóm KN giáo dục, nhóm KN tự bồi dƣỡng, nhóm KN nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng, nhóm KN hoạt động xã hội). KN trong một nghề cụ thể đƣợc hiểu là KN nghề, hàm chỉ đến thao tác, hành động của con ngƣời trong nghề đó. KN là một thành tố quan trọng trong ba thành tố tạo nên năng lực của con ngƣời (kiến thức, KN và thái độ).
Theo tiếp cận này, không chỉ đề cập khả năng của con ngƣời để làm tốt một công việc nào đó, mà còn nhấn mạnh đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn của cả kiến thức, KN, thái độ để giúp con ngƣời thực hiện một công việc nào đó nhƣ mong đợi.