Luận văn ThS. Bành Hiền Phúc - Vận dụng kỹ thuật dạy học XYZ vào môn Công nghệ 8

Nghiên cứu vận dụng kỹ thuật dạy học XYZ vào giảng dạy môn Công nghệ 8 tại trường THCS-THPT Lê Hồng Phong, tỉnh Sóc Trăng. Luận văn thạc sĩ phân tích hiệu quả

Tác giả

Bành Hiền Phúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

186
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ thuật dạy học XYZ trong giảng dạy Công nghệ 8

Kỹ thuật dạy học XYZ, còn gọi là kỹ thuật 6-3-5, là phương pháp tổ chức hoạt động nhóm sáng tạo trong giáo dục. Kỹ thuật này yêu cầu sáu học sinh mỗi nhóm, mỗi em viết ba ý tưởng trong vòng năm phút. Sau đó, giấy được chuyển theo chiều kim đồng hồ cho thành viên tiếp theo phát triển ý tưởng. Quá trình lặp lại cho đến khi tất cả thành viên đều đóng góp xong. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia phát triển như Đức, Nhật Bản. Tại Việt Nam, kỹ thuật XYZ đã được đưa vào chương trình bồi dưỡng giáo viên, thuộc dự án phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục. Môn Công nghệ 8 thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới, đòi hỏi học sinh phát triển năng lực thực hành và tư duy sáng tạo. Việc vận dụng kỹ thuật XYZ vào giảng dạy môn Công nghệ 8 tại trường THCS và THPT Lê Hồng Phong, tỉnh Sóc Trăng, nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực và khả năng hợp tác của học sinh trong quá trình học tập công nghệ.

1.1. Khái niệm và nguồn gốc kỹ thuật dạy học XYZ

Kỹ thuật dạy học XYZ có nguồn gốc từ phương pháp 6-3-5 Brainwriting do Bernd Rohrbach phát triển năm 1968 tại Đức. Đây là kỹ thuật động não viết, kết hợp tư duy cá nhân và làm việc nhóm. Ký hiệu X-Y-Z tương ứng: X là số thành viên nhóm (thường sáu người), Y là số ý tưởng mỗi thành viên đóng góp (ba ý tưởng), Z là thời gian thực hiện mỗi vòng (năm phút). Kỹ thuật này phổ biến trong giáo dục nhiều nước phát triển, đặc biệt trong đào tạo năng lực sáng tạo và tư duy phản biện. Tại Việt Nam, kỹ thuật XYZ được giới thiệu trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên thuộc module phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên trung học.

1.2. Đặc điểm và quy trình thực hiện kỹ thuật XYZ

Quy trình thực hiện kỹ thuật XYZ gồm bốn bước cơ bản. Bước một, giáo viên chia lớp thành nhóm sáu học sinh, phát phiếu học tập và nêu yêu cầu nhiệm vụ. Bước hai, mỗi học sinh viết ba ý tưởng cá nhân lên phiếu trong năm phút. Bước ba, phiếu được chuyển cho thành viên bên phải theo chiều kim đồng hồ. Thành viên tiếp theo đọc ý tưởng cũ và viết thêm ba ý tưởng mới. Quá trình lặp lại cho đến khi tất cả thành viên nhận lại phiếu ban đầu. Bước bốn, các nhóm thảo luận, tổng hợp và chọn lọc ý tưởng tốt nhất để trình bày trước lớp. Giáo viên nhận xét, đánh giá và hệ thống hóa nội dung bài học.

II. Phân tích thực trạng giảng dạy Công nghệ 8 tại trường Lê Hồng Phong

Trường THCS và THPT Lê Hồng Phong nằm tại tỉnh Sóc Trăng, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là trường liên cấp, phục vụ đối tượng học sinh đa dạng với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Thực trạng giảng dạy môn Công nghệ 8 tại trường gặp nhiều thách thức đáng lo ngại. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn theo hình thức truyền thống, giáo viên thuyết trình và học sinh ghi chép thụ động. Cơ sở vật chất phục vụ dạy học công nghệ còn hạn chế, thiếu trang thiết bị thực hành hiện đại. Học sinh ít có cơ hội thực hành, sáng tạo và hợp tác nhóm trong giờ học. Kết quả học tập môn Công nghệ 8 chưa đạt yêu cầu đề ra, nhiều học sinh không hứng thú với môn học. Nhận thức về tầm quan trọng của công nghệ trong đời sống còn thấp ở nhiều em. Trước thực trạng đó, việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt áp dụng kỹ thuật dạy học tích cực như XYZ, trở thành nhu cầu cấp thiết để cải thiện chất lượng giáo dục tại nhà trường.

2.1. Thực trạng phương pháp dạy học môn Công nghệ 8

Qua khảo sát tại trường THCS và THPT Lê Hồng Phong, phương pháp dạy học môn Công nghệ 8 chủ yếu dựa vào hình thức thuyết trình một chiều. Giáo viên đọc và giải thích nội dung bài học trong khi học sinh ngồi nghe ghi chép. Các hoạt động thực hành chiếm tỷ lệ thấp, thường chỉ dừng ở mức quan sát giáo viên làm mẫu. Phương pháp làm việc nhóm chưa được tổ chức bài bản, thiếu quy trình rõ ràng. Học sinh ít được phát huy tính chủ động và sáng tạo trong giờ học công nghệ. Nhiều em xem môn Công nghệ là môn phụ, không quan trọng, dẫn đến thiếu tập trung và không đầu tư thời gian học tập. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục toàn diện.

2.2. Khó khăn và thách thức trong triển khai đổi mới phương pháp

Việc đổi mới phương pháp dạy học tại trường THCS và THPT Lê Hồng Phong đối mặt nhiều khó khăn. Thứ nhất, đội ngũ giáo viên chưa được tập huấn đầy đủ về các kỹ thuật dạy học mới, đặc biệt kỹ thuật XYZ. Thứ hai, sĩ số lớp học đông, thường trên 35 học sinh, gây khó khăn cho tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả. Thứ ba, cơ sở vật chất thiếu thốn, phòng học chật hẹp, không đủ không gian cho học sinh di chuyển và thảo luận. Thứ tư, văn hóa học tập truyền thống khiến nhiều học sinh ngại bày tỏ ý kiến cá nhân trước tập thể. Ngoài ra, áp lực chương trình và thời gian giảng dạy hạn chế cũng là rào cản lớn trong triển khai phương pháp dạy học tích cực.

III. Giải pháp vận dụng kỹ thuật XYZ vào giảng dạy Công nghệ 8

Vận dụng kỹ thuật dạy học XYZ vào giảng dạy một số nội dung môn Công nghệ 8 đòi hỏi giáo viên thực hiện quy trình thiết kế bài dạy khoa học và phù hợp. Trước tiên, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu bài học, chọn lọc nội dung phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp Tám. Tiếp theo, giáo viên chuẩn bị phiếu học tập với các câu hỏi gợi mở, kích thích tư duy sáng tạo. Trong giờ học, giáo viên tổ chức lớp thành nhóm sáu học sinh, hướng dẫn rõ quy trình thực hiện kỹ thuật XYZ. Học sinh viết ý tưởng cá nhân, chuyển phiếu và phát triển ý tưởng của bạn cùng nhóm. Sau đó, các nhóm thảo luận, tổng hợp và trình bày kết quả trước lớp. Giáo viên đóng vai trò điều phối, hỗ trợ và đánh giá quá trình làm việc nhóm. Phương pháp này giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo, hợp tác nhóm và năng lực giải quyết vấn đề. Kết quả thực nghiệm tại trường cho thấy chất lượng dạy học cải thiện đáng kể khi áp dụng kỹ thuật XYZ.

3.1. Thiết kế bài dạy áp dụng kỹ thuật XYZ cho Công nghệ 8

Để áp dụng kỹ thuật XYZ vào dạy học Công nghệ 8, giáo viên cần thiết kế bài dạy theo ba giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị, giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, xác định kiến thức trọng tâm và xây dựng phiếu học tập. Phiếu cần có câu hỏi mở, phù hợp năng lực học sinh và khuyến khích nhiều câu trả lời sáng tạo. Giai đoạn tổ chức giờ học, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện đúng quy trình bốn bước của kỹ thuật XYZ: viết cá nhân, chuyển phiếu, phát triển ý tưởng và thảo luận nhóm. Thời gian mỗi bước cần kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tiến độ. Giai đoạn đánh giá, giáo viên tổng hợp ý tưởng, nhận xét ưu nhược điểm và hệ thống hóa kiến thức bài học.

3.2. Kết quả thực nghiệm và đánh giá hiệu quả

Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại trường THCS và THPT Lê Hồng Phong với hai nhóm: nhóm thực nghiệm áp dụng kỹ thuật XYZ và nhóm đối chứng sử dụng phương pháp truyền thống. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có điểm trung bình cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Học sinh trong nhóm thực nghiệm thể hiện sự hứng thú và tích cực tham gia giờ học hơn. Khả năng hợp tác nhóm và kỹ năng trình bày ý tưởng cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, học sinh nhút nhát cũng mạnh dạn đóng góp ý kiến thông qua hình thức viết phiếu cá nhân. Giáo viên nhận xét kỹ thuật XYZ dễ tổ chức, phù hợp điều kiện thực tế. Tuy nhiên, cần kiểm soát thời gian và hướng dẫn học sinh cách phát triển ý tưởng có hệ thống.

IV. Kết luận và ứng dụng kỹ thuật XYZ trong dạy học Công nghệ

Nghiên cứu về vận dụng kỹ thuật dạy học XYZ vào giảng dạy một số nội dung môn Công nghệ 8 tại trường THCS và THPT Lê Hồng Phong, tỉnh Sóc Trăng, đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Kỹ thuật XYZ phát huy hiệu quả trong việc tăng cường tính chủ động, sáng tạo và khả năng hợp tác của học sinh. Phương pháp này giúp chuyển đổi từ hình thức dạy học truyền thống sang dạy học lấy người học làm trung tâm. Học sinh được trải nghiệm quy trình tư duy sáng tạo có hệ thống, từ cá nhân đến tập thể. Kết quả nghiên cứu góp phần đổi mới phương pháp dạy học tại trường, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu mới về ứng dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học công nghệ ở trường phổ thông. Đây là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình áp dụng kỹ thuật XYZ tại các trường khác trong tỉnh Sóc Trăng và các địa phương lân cận.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Về mặt lý luận, nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở khoa học của kỹ thuật dạy học XYZ, làm rõ quy trình và nguyên tắc vận dụng vào dạy học Công nghệ 8. Nghiên cứu bổ sung tài liệu tham khảo quý giá cho đội ngũ giáo viên và nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm đến phương pháp dạy học tích cực. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp mô hình bài dạy mẫu áp dụng kỹ thuật XYZ cho chương trình Công nghệ 8. Giáo viên có thể tham khảo và vận dụng linh hoạt vào điều kiện giảng dạy cụ thể tại địa phương. Nghiên cứu cũng chỉ ra những điều kiện cần thiết để triển khai hiệu quả, bao gồm cơ sở vật chất, sự chuẩn bị của giáo viên và năng lực học sinh.

4.2. Hướng phát triển và kiến nghị triển khai

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển và nhân rộng việc áp dụng kỹ thuật XYZ trong dạy học Công nghệ 8. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng cần tổ chức các khóa tập huấn về kỹ thuật dạy học tích cực cho giáo viên. Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy học công nghệ hiện đại hơn. Giáo viên cần chủ động nghiên cứu, sáng tạo trong thiết kế bài dạy áp dụng kỹ thuật XYZ phù hợp từng nội dung chương trình. Cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm với quy mô lớn hơn để đánh giá toàn diện hiệu quả. Việc xây dựng ngân hàng bài dạy mẫu áp dụng kỹ thuật XYZ cho toàn bộ chương trình Công nghệ 8 sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ vận dụng kỹ thuật dạy học xyz vào giảng dạy một số nội dung môn công nghệ 8 tại trường thcs thpt lê hồng phong tỉnh sóc trăng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 B. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ THUẬT DẠY HỌC XYZ 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới  Một số nhận định chung về kĩ thuật XYZ (6 – 3 – 5) Kĩ thuật XYZ (6-3-5 Brainwriting) [23] là một KT nhóm sáng tạo đƣợc sử dụng trong tiếp thị, quảng cáo, thiết kế, văn bản và phát triển sản phẩm đƣợc phát triển bởi giáo sƣ Bernd Rohrbach vào năm 1968.

Dựa trên khái niệm của não, mục đích của 6-3-5 (Brainwriting) là để tạo ra 108 ý tƣởng mới trong 30 phút. Tƣơng tự nhƣ động não, nó không phụ thuộc vào chất lƣợng ý tƣởng mà quan trọng là số lƣợng các ý tƣởng. Theo Fernald & Nickolenko, 1993; Leclef, 1994 [24] cho rằng động não viết đƣợc biết đến nhƣ là công cụ để giải quyết vấn đề sáng tạo. Nó là một KT đơn giản dễ thực hiện, tăng khả năng phát triển ý tƣởng chung và tạo sự thích thú với chính hoạt động của mình (Isaksen, 1998).

Jonas Löwgren và Erik Stolterman [20][30] nhận định KT XYZ (6-3-5) là một phiên bản có cấu trúc phức tạp hơn KT động não, do Robarch khởi sƣớng và đƣợc phát triển bởi Pahl và Beltz (1988). Paul và Beitz [20][30] khẳng định KT XYZ (635) có những thuận lợi nhất định so với động não thƣờng xuyên, chẳng hạn nhƣ khả năng để phát triển hệ thống các ý tƣởng một cách tự nhiên hơn, khả năng tránh những khó khăn nhóm năng động, và khả năng xác định ngƣời khởi tạo một ý tƣởng đặc biệt mạnh mẽ. Heinz Gerhäuser, Jürgen Hupp, Christos Efstratiou và Janina Heppner [17][27] khẳng định KT XYZ là KT sáng tạo, nó nhƣ là công cụ hỗ trợ khả năng sáng tạo (quá trình tạo ra một cái gì đó mới có giá trị). Kĩ thuật XYZ là một KT động não 6 viết, với vấn đề đƣợc giải quyết theo vòng tròn để tạo ra những ý tƣởng trong một nhóm các chuyên gia hoặc ngƣời tham gia.

KT này căn cứ vào một biểu mẫu bảng 1.4 sẽ đƣợc trao cho tất cả 6 ngƣời tham gia. Các mẫu đƣợc phân mảnh trong một bảng gồm 3 cột và 6 dòng đƣợc đánh số tuần tự. Ban đầu mỗi ngƣời tham gia phải viết xuống ba ý tƣởng cho một câu hỏi đƣợc đƣa ra trong những dòng đầu tiên. Sau năm phút bảng ý tƣởng này sẽ đƣợc di chuyển theo chiều kim đồng hồ cho ngƣời bên cạnh, cuối cùng ngƣời cả nhóm đọc những ý tƣởng nhất định và tạo ra những cái mới hoặc bổ sung những ý tƣởng đã đƣợc trình bày.

Kết quả của KT này là một bộ sƣu tập lên đến 108 ý sau 30 phút (6 ngƣời tham gia với 3 ý tƣởng và 6 dòng). KT này cho phép đƣợc phản hồi trực tiếp với những ý tƣởng đƣợc đƣa ra cũng nhƣ tạo ra một số lƣợng toàn bộ ý tƣởng mới. Thêm vào đó những ý tƣởng có thể đƣợc tạo ra và phát triển một cách có hệ thống. KT XYZ nhƣ là công cụ hỗ trợ nhằm đạt đến kết quả cho các văn phòng làm việc, quản lý, kinh tế, an ninh, các khía cạnh tự động hóa và thông tin liên lạc.

Các tác giả đã đƣa ra kết luận KT sáng tạo này thật sự rất cần thiết cho các bộ phận làm việc sử dụng đến trí óc và dịch vụ hành chính công đang phải đối mặt với những thách thức và cạnh tranh trên toàn cầu và nó sẽ phát triển thêm nữa trong tƣơng lai. Jamal Omari Wilson [22][32] lại cho rằng XYZ (6 – 3 – 5) là một KT động não nhóm gồm 6 ngƣời tham gia. Mỗi ngƣời tham gia viết xuống ba từ khóa, sau đó đƣợc chuyển cho các thành viên còn lại trong nhóm. Các thành viên còn lại ghi tiếp tục ba ý tƣởng để giải quyết.

Ý tƣởng đƣợc truyền tổng cộng năm lần. Do đó, các kĩ thuật 6 – 3 – 5 gồm 6 ngƣời tham gia, 3 ý tƣởng và 5 phút thông qua. Bogdan Lent [19][29] nhận định rằng KT XYZ nhƣ là cách “ghi nhận các suy nghĩ” đã đƣợc hình thành bởi Rohrbach năm 1969, XYZ có chức năng tƣơng tự nhƣ "động não". Các ý tƣởng không đƣợc trình bày dƣới dạng một hình thức tổng thể nhƣng nó đƣợc ghi nhận bởi những ngƣời tham gia.

Do đó, ngƣời tham gia có khả năng tƣơng tác tốt trong xã hội hiện tại.  Châu Âu và Châu Mỹ 7 Qua nghiên cứu Larisa V. Shavinina [21][31] cho rằng ở Châu Âu, học giả Rickard ở Anh và Horst Geschka ở Đức đã có những đóng góp to lớn cho lĩnh vực giới thiệu động não và KT và thực hành chúng tích cực. Động não điện tử của Rickard (Rickards' Electronic Brainstorming) và động não viết của Geschka (Brainwriting, 635 method) là hai biến thể đƣợc sử dụng rộng rãi dựa trên PP luận ban đầu của Osborn (Rickards, 1999; Geschka, Moger & Rickards, 1994).

Mặc dù KT 635 đƣợc phát triển bởi Bernh Rohrbach năm 1969, Geschka và đồng nghiệp của ông của nhóm nghiên cứu Battelle tại Frankfurt đã kiểm tra và thử nghiệm KT này trong các ứng dụng thực tế và đã đƣa ra phiên bản mới vào năm 1971. Ở những nơi khác ở Châu Âu, Edward de Bono (1969, 1986) đã đẩy ranh giới của tƣ duy sáng tạo với thêm hai biến thể, đƣợc gọi là tƣ duy Lateral (Lateral Thinking) và tƣ duy với 6 chiếc nón (The Six Thinking Hats). Trong những thập kỉ sau đó, giáo dục sáng tạo và dạy học với suy nghĩ sáng tạo đã đƣợc thực hiện tƣơng tự nhƣ nhau ở cả Châu Âu và Hoa Kì.  Châu Á Theo Bernd Jöstingmeier [18][28] và Larisa V.

Shavinina [21][31] cho rằng các biến thể mới về KT Động não trong đó có KT XYZ đã dẫn đến những đột phá đáng kể ở Châu Á, đáng chú ý nhất tại Nhật Bản và Trung Quốc, các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản đã ứng dụng các KT sáng tạo thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh:  Trong tháng 10 năm 1991, Xu với Yuzuru Oshika và Tatsuo Hoashi, gửi bộ câu hỏi đến 500 doanh nghiệp Nhật Bản để điều tra việc áp dụng các KT tƣ duy sáng tạo. Một tập hợp điều tra bao gồm tám mƣơi chín phần trăm số lƣợng nhân viên công ty, kết quả phiếu điều tra thu về là 17,8%.1 cho thấy tỷ lệ phần trăm của các KT tƣ duy nhóm, bao gồm động não và KT KJ là cao hơn so với các KT khác.  Mặt khác, Xu đã có một cuộc phỏng vấn với khoảng 50 ngƣời dân tại 5 doanh nghiệp Trung Quốc trong năm 1989. Theo các cuộc phỏng vấn, Trung 8 Quốc thích tƣ duy sáng tạo, KT cá nhân nhƣ KT khiếm khuyết (Defect Enumeration), KT hy vọng (Hopes Enumeration) qua các PP nhóm.

Nhƣng tỷ lệ Brainstorming là thấp. Các chi tiết đƣợc trình bày trong bảng 1. Tỷ lệ sử dụng các kĩ thuật tư duy sáng tạo [18] [21][31] Doanh nghiệp Nhật Bản Doanh nghiệp Trung Quốc Brainstorming 86,6% Defects Enumeration 78,3% KJ method 73,0% Hopes Enumeration 70,1% NM method 22,4% Check List 41,5% Others 16,9% Lateral Thinking 25,6% Lateral Thinking 13,4% Kongming Meeting 21,8% Ichikawa Method 10,1% Brainstorming 13,0% Synectic 4,4% 635 method 9,2% 635 method 1,1% Others 5,9% Tháng 10 năm 1991 Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1989 Từ kết quả nghiên cứu, Bernd Jöstingmeier [18][28] nhận thấy rằng sự sáng tạo của nhóm và tổ chức đã nhấn mạnh trên sự sáng tạo cá nhân. Doanh nghiệp Nhật Bản và Trung Quốc đã áp dụng các mô hình sáng tạo và đạt đƣợc sự tăng trƣởng doanh thu liên tục.

Trên phƣơng diện giáo dục, Larisa V. Shavinina [21][31] nhận định rằng, trong những năm gần đây Trung Quốc cũng đã bắt đầu giới thiệu các chƣơng trình giáo dục sáng tạo và bắt đầu giảng dạy các tƣ duy sáng tạo cho HS. Nhiều trƣờng tiểu học và trung học trên lãnh thổ Trung Quốc cũng đƣa ra khóa học gọi là KT sáng tạo và các trƣờng cao đẳng, đại học cũng đã giảng dạy cách sáng tạo cho các kĩ sƣ (Creative Engineering). Các khóa học này đã tập trung vào sự phát triển sáng tạo để cải thiện khả năng suy nghĩ mang tính sáng tạo (Xu, 2005, 2009).

Lịch sử vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam KTDH XYZ (6 – 3 – 5) là một KT mới đƣợc phát triển dựa trên KT động não của Osborn [8]. Sau đó KT này đã nhanh chóng đƣợc phát triển và vận dụng trên 9 nhiều nƣớc. Tuy nhiên, KT này mới đƣợc triển khai ở Việt Nam trong những năm gần đây. Cụ thể: Năm 2010, Nguyễn ăn Cường và ernd Meier đã phổ biến một số KTDH mới vào Việt Nam trong đó có KTDH XYZ qua dự án phát triển giáo viên THPT.

Trong dự án này, các tác giả đã triển khai KT XYZ khá rõ qua quyển Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông [2], đƣợc diễn ra ở Hà Nội. Năm 2013:  Trong quyển tài liệu Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên (quyển 2) [14] dành cho GV tiểu học. Thông qua tài liệu bồi dƣỡng này, KT XYZ đƣợc vận dụng vào giảng dạy giáo dục kĩ năng sống HS. Tuy nhiên KT này và một số KT khác trình bày ngắn gọn, chƣa bật hết nội dung của KT.

Kết thúc nội dung là phần củng cố, các GV tập huấn thảo luận các câu hỏi để vận dụng vào thực tế giảng dạy và nêu ra những khó khăn, thuận lợi khi sử dụng các KTDH vào giáo dục kĩ năng sống cho HS.  Lê Thị Bích và Nguyễn Bích Lan [2] đã đề cập đến KT XYZ trong quyển tài liệu Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động của giáo viên dành cho khối THCS (module 34 đến 38). Tài liệu bồi dƣỡng này trình bày khá chặt chẽ về KT XYZ cũng nhƣ cách thức tiến hành nó. Tuy nhiên, phần vận dụng nó thì chƣa đƣợc tác giả đề cập đến.

 Lê Thanh Sử - Nguyễn Thanh Bình và Phạm Quỳnh [10] đã đề cập đến KT XYZ trong quyển Tài liệu bồi dưỡng Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên, tác giả đã triển khai một số KT sáng tạo trong đó có KT 6 – 3 – 5 (XYZ) trong tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho khối THPT. Ở mỗi KT triển khai, tác giả nêu lên qui trình để vận dụng các KT này. Kết thúc nội dung bồi dƣỡng hoạt động ngoài giờ lên lớp, tác giả đƣa ra các câu hỏi thảo luận nhƣ những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng [2] Nguyễn Văn Cƣờng và Bernd Meier, Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ