CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN 1. Năng lực, năng lực trí tuệ, năng lực tư duy và năng lực toán học Trong mục này, luận văn sẽ trình bày những khái niệm cơ sở: Năng lực, năng lực trí tuệ, năng lực tư duy và năng lực toán học. Năng lực Từ điển Tiếng Việt của tác gia Hoàng Phê (1998) [20, tr. 660] đã nêu: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có dé thực hiện một hoạt động nào đó hoặc là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Tác giả Nguyễn Như Ý (1999) trong [26, tr. 303], quan niệm: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vẫn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm của mỗi người”. Tác giả Xavier Roegier (1996) trong [28, tr.12], quan niệm: “Năng lực được hiểu là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội, và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nghiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Như vậy, trên cơ sở các quan niệm nói trên có thể quan niệm: Năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó của con người trong việc tích lũy và vận dụng các tri thức để giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề trong học tập và trong cuộc sống một cách sáng tạo và hiệu quả.
Năng lực trí tuệ Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (1998) [20]: “Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định”. Tác giả Nguyễn Ky (2004) trong [16] nói rõ hơn: Dé có thé hiểu bao quát về khái niệm trí tuệ, cần lưu ý đến bốn đặc trưng của trí tuệ là: Trí tuệ là yêu t6 tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý khác của cá nhân. e Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thé với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân. e Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thé.
e Su phat triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thé và chịu sự chê ước của các yêu tô văn hóa xã hội. Từ các quan niệm nói trên, có thể quan niệm rằng: Trí tuệ là khả năng nhận thức của con người, tổ hợp các năng lực nhận thức và năng lực nhận cảm, được hình thành trong hoạt động, tác động của quá trình tâm lý và bối cảnh văn hóa xã hội. về năng lực trí tuệ, có thé dẫn một cách mô tả như sau: Tác giả Laytex N. (1978) trong [17] đã nêu : “Năng lực trí tuệ của một người nói lên trí thông minh của người đó, năng lực trí tuệ của một người tương xứng với khả năng tiếp thu dé đạt được khả năng trí tuệ của người đó”.
Tác gia Jaques E, trong [11] đã nêu : “Năng lực trí tuệ là phức hợp những năng lực giúp cho mỗi cá nhân có khả năng làm việc và đạt những mục tiêu đề ra”. Năng lực trí tuệ đề cập đến các kỹ năng cần thiết để tư duy phê phán, thấy được sự kết nối giữa các quy tắc với van dé cần giải quyết trong tình huống mới hoặc tình huống được thay đôi. Trí nhớ, giải quyết vấn dé sáng tạo và ngôn ngữ đóng góp vào năng lực trí tuệ cho một cá nhân. Trong khi các nhà khoa học định nghĩa khác nhau về năng lực trí tuệ thì hầu hết đều đồng ý rằng năng lực trí tuệ bao gồm khả năng cao về lập luận và tư duy trừu tượng, khả năng tiếp thu kiến thức và khả năng giải quyết van đề.
Như vậy, từ những quan niệm trên, có thể quan niệm: “Năng lực trí tuệ là một loại năng lực, năng lực suy nghĩ được thể hiện thông qua các hoạt động trí tuệ trong việc tích lũy và vận dụng các tri thức để giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và vấn đề trong cuộc sống một cách sáng tạo và hiệu quả”. Năng lực tư duy Từ điển Tiếng Việt [20] đã nêu: “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng”. Tác giả Pham Minh Hạc (1988), trong [6], đã nêu: “Tu duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết”. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 2018, năng lực tư duy va lập luận toán học: “thể hiện qua việc thực hiện được các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích - tổng hợp, đặc biệt hoá, tương tự; quy nạp, diễn dịch”, chỉ ra được các chứng cứ, lý lẽ và biết lập luận hợp lý trước khi kết luận, biết giải thích hoặc điều chỉnh được cách thức giải quyết van đề về phương diện toán hoc.
Năng lực tư duy và lập luận toán học được coi là một trong năm thành tố cốt lõi của năng lực toán học. Từ những quan niệm trên, năng lực tư duy có thể hiểu là một loại năng lực, năng lực suy nghĩ, được thê hiện thông qua các thao tác tư duy (hoạt động trí tuệ) trong việc giải quyết van dé, tích lũy tri thức, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào các tình huống thực tiễn để mang lại kết quả tốt. Năng lực toán học Trong [7, tr.126], dẫn lời của Krutecxki V. (1973) đã nêu: “Những năng lực toán học được hiểu là đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng yêu cầu của hoạt động toán học và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt năm vững tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực toán học”.
“Năng lực toán học bao gồm khả năng hiểu, phán đoán, thực hành và sử dụng toán học trong một loạt các bối cảnh và các tình huống, trong đó có sử dụng Toán học. Năng lực toán học bao gồm những kiến thức của học sinh về toán học (như định nghĩa, định lý, quy tắc, công thức) và kỹ năng của học sinh trong việc sử dụng thực tiễn dé hình thành, chứng minh và giải quyết các vấn dé trong môn Toán hoặc trong các môn học khác” (trích theo Walelign. Năng lực toán hoc cua học sinh chu yếu được hình thành và phát triển trong tiến trình: nhận biết kiến thức, kỹ năng toán học; kết nối toán học với đời sống thực tiễn; áp dụng kiến thức, kỹ năng toán học dé giải quyết các van dé cụ thé trong học tập hoặc trong cuộc sống hàng ngày. Việc hình thành và phát triển năng lực toán học góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển những năng lực chung cốt lõi cho học sinh.
Như vậy, năng lực toán học có thé hiểu một cách khái quát là khả năng đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động toán học, có thể áp dụng kiến thức toán học vào cuộc sống hàng ngày một cách hiệu quả. Năng lực của cá nhân được hình thành và băng hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, được phát triển và đánh giá thông qua các hoạt động, năng lực góp phần cho quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động nhất định được nhanh chóng, thuận lợi, dễ dang; có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kỹ năng trong lĩnh vực đó. Phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh trong dạy học môn Toán Việc phát triên năng lực trí tuệ học sinh là một vân đê có tính thời sự cân phải đã, đang và rât cân được quan tâm hơn nữa. Điêu đó được thê hiện và nhân mạnh trong Nghị quyêt “Vê đôi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo”: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển 10 toàn diện năng lực và phẩm chất học sinh.
Học đi đối với hành; lý luận gan VỚI thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Theo Nguyễn Bá Kim [13, tr.43], phát triển năng lực trí tuệ về một số phẩm chất trí tuệ như tính độc lập, tính tự giác,. yêu cầu tao CƠ SỞ dé hoc sinh hoc tiếp hoặc đi vào cuộc sống lao động, can chú ý đúng mức đặc thù môn hoc. Cần phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh vì những lý do sau đây: e Thứ nhất, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh là một trong những mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất, đồng thời cũng là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giáo dục toán học trong nhà trường.
e_ Thứ hai, Phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh dé đáp ứng yêu cầu mới của đât nước. Trong thời đại kinh tế tri thức, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, cần phải bồi dưỡng, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Dao tạo, nhăm chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Luật Giáo dục của nước ta năm 2019, cũng đã ghi rõ: cần đào tạo một thế hệ người lao động có phẩm chất đạo đức tốt, đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ khoa học. ¢ _ Thứ ba, nếu con người chi dừng lại ở nhận thức cảm tinh thì chi thay được những biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng.
e Thứ tư, môn Toán có nhiều tiềm năng phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Theo [3]: “Năng lực trong môn Toán bao gồm 5 năng lực sau: * Năng lực tư duy và lập luận toán học; 8SXSS Năng lực mô hình hóa toán học; Năng lực giải quyết van dé toán học; Năng lực giao tiếp toán học; Năng lực sử dụng công cụ và phương tiện học toán”. Tác giả Nguyễn Bá Kim [13] đã nhắn mạnh: năng lực trí tuệ của học sinh chỉ có thé được hình thành phát triển trong hoạt động và bằng các hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của chủ thê.