Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 1. Kỹ năng Trong Từ điển tiếng Việt, KN được định nghĩa theo quan điểm thứ hai như sau: “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [13].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Kĩ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [14]. Nhìn chung khi xem xét KN ta phải lưu ý những điểm sau: Thứ nhất: KN trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định. KN không có đối tượng riêng, đối tượng của KN là đối tượng của hoạt động, hành động.
Không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động. Khi nói tới KN là nói tới một hành động cụ thể đạt tới mức đúng đắn và thành thục nhất. KN hành động đồng nghĩa với hành động có KN. Thứ hai: Cơ chế hình thành KN thực chất là cơ chế hình thành hành động.
Mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích. Lôgic thao tác làm nên mặt kỹ thuật của hành động. Việc hình thành KN hành động là hình thành ở con người khả năng triển khai thao tác theo đúng lôgic phù hợp với mục đích khách quan. Việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành KN được quy định bởi sự định hướng, điều khiển và điều chỉnh quá trình hình thành và củng cố hành động.
Thứ ba: KN là mức độ cao của tính đúng đắn, thành thục và tính sáng tạo của việc triển khai hành động trong thực tiễn. Đúng đắn, thành thục và sáng tạo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KN hành động. Hành động chưa thể có KN nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, hành động còn tiêu tốn nhiều thời gian, công sức triển khai nó và hành động còn cứng nhắc mang tính dập khuôn. Vì vậy, để có KN hành động cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, cơ chế, điều kiện hành động) mà chủ yếu phải mềm dẻo và linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh của hành động.
KN luôn được nhận thức. Thứ tư: KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Đó là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt mục đích đã đề ra. 8 Từ những quan niệm trên, tôi đi đến kết luận: KN là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn để thực hiện có kết quả hành động đó.
Xem xét KN không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật hành động mà còn là khả năng của chủ thể hành động. Như vậy, người có KN hành động trong một lĩnh vực hoạt động nào đó được biểu hiện ở những dấu hiệu sau: + Kĩ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân. + KN là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phù hợp với điều kiện hoạt động. + Sự vận dụng KN phải đem lại kết quả cho hoạt động.
+ Có thể thực hiện hành động, hoạt động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi. Nghĩa là, KN đòi hỏi con người phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động. KN chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn một cách có kết quả. Tình huống sư phạm THSP được hiểu: “Tình huống sư phạm là tình huống có vấn đề nảy sinh trong hoạt động sư phạm, gây khó khăn cho nhà giáo dục trong việc thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục, buộc nhà giáo dục phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới để khắc phục nó” [9 tr125].
Thực tiễn trong công tác giáo dục, THSP rất đa dạng, phong phú, muôn màu, muôn vẻ, không có một khuôn mẫu giải quyết mà người giáo viên cần có tư duy sáng tạo, tìm tòi phương án giải quyết cho phù hợp với tình huống. Ngay cả một tình huống giống nhau nhưng với các đối tượng khác nhau, ở thời điểm khác nhau thì cách giải quyết cũng không còn giống nhau nữa. Đặc điểm của tình huống sư phạm [9 tr125]: + Tính có vấn đề: THSP luôn chứa đựng một vấn đề (mâu thuẫn) cần giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ của giáo dục với khả năng hiện có của người học và giáo viên là chủ yếu.
+ Tính phức tạp: mỗi THSP có thể chứa đựng nhiều mâu thuẫn và nguồn gốc khác nhau của các mâu thuần ấy tạo nên tính phức tạp của THSP. Vấn đề có ý nghĩa là ở chỗ giáo viên phải nhận thức được mâu thuẫn chủ yếu cũng như nguồn gốc của nó trong mỗi tình huống sư phạm cụ thể. Đây chính là tiền đề về mặt nhận thức không thể thiếu để họ có được biện pháp đúng đắn trong việc giải quyết tình huống sư phạm. 9 + Tình bất ngờ: tình huống sư phạm có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong suốt tiến trình hoạt động sư phạm.
Yếu tố khách quan tạo nên tính bất ngờ là tính phức tạp của quá trình giáo dục và sự phát triển tâm lý trẻ em. Sự vận động của quá trình giáo dục chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó không ít yếu tố nằm ngoài sự chi phối của nhà giáo dục, chính vì vậy mà THSP bất ngờ cả về thời điểm, nội dung và tình chất. Tính bất ngờ của THSP thường làm cho nhà giáo dục lúng túng, mất bình tĩnh gây khó khăn cho việc giải quyết chúng. Chính vì lẽ đó mà khả năng tự chủ của người giáo viên là một phẩm chất ý chí đặc biệt cần thiết trong quá trình dạy học và giáo dục.
Như vậy, THSP là toàn bộ những sự việc, hiện tượng, sự kiện bất ngờ, những nghịch lý nảy sinh trong quá trình sư phạm đòi hỏi tập thể hay cá nhân nhà giáo dục phải suy nghĩ tìm tiếm các phương tiện, cách thức mới để giải quyết một cách kịp thời nhằm đạt tới hiệu quả giáo dục cao nhất. Căn cứ vào đặc điểm hoạt động sư phạm của người dạy, vào đặc điểm hoạt động học tập của người học, THSP được chia làm hai loại: + THSP nảy sinh trong quá trình dạy học: loại tình huống nảy thường xảy ra trong quá trình dạy học, việc giải quyết các tình huống này sẽ phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của SV trong quá trình nhận thức và nắm vững tri thức mới. + THSP nảy sinh trong quá trình giáo dục gồm: loại THSP phải tìm hiểu nguyên nhân, cách thức và biện pháp giải quyết các nhiệm vụ giáo dục lâu dài, đòi hỏi kết hợp các lực lượng giáo dục; loại THSP đòi hỏi phải giải quyết bằng trực giác… + THSP đòi hỏi sinh viên giải quyết các hiện tượng giáo dục trong thực tiễn sư phạm, gồm: / THSP đòi hỏi sinh viên phải phân tích nguyên nhân một hiện tượng diễn ra trong thực tiễn giáo dục thích hợp. /THSP đòi hỏi sinh viên phải phân tích các phương án giải quyết và lựa chọn cách giải quyết thích hợp.
/THSP đòi hỏi sinh viên phải có những biện pháp nhất định để giải quyết nhiệm vụ giáo dục đặt ra. Kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm Trên cơ sở phân tích các khái niệm có liên quan ở trên, kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm được hiểu như sau: kỹ năng giải quyết THSP là khả năng vận dụng 10 những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả tương đối ổn định những hành động giải quyết THSP. Kỹ năng giải quyết THSP là một tổ hợp nhiều kỹ năng bộ phận, nó không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động giải quyết THSP mà còn là biểu hiện năng lực của người giáo viên. Ta có thể thấy kỹ năng giải quyết THSP là một bộ phận cấu thành năng lực giáo dục của người giáo viên.
Không thể nói đến năng lực giáo dục nếu thiếu kỹ năng giải quyết THSP. THSP xuất hiện trong quá trình giáo dục, vì vậy kỹ năng giải quyết THSP có ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả giáo dục và dạy học của người giáo viên. Khi giải quyết THSP trong quá trình dạy học người giáo viên thực hiện chức năng giáo dục của mình. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM 1.
Các nguyên tắc giải quyết tình huống sư phạm Để giải quyết tình huống sư phạm cần đảm bảo nguyên tắc cơ bản sau: - Bảo đảm tính giáo dục: Tình huống sư phạm luôn chứa đựng mâu thuẫn giáo dục, vì vậy mọi biện pháp được đề xuất để giải quyết tình huống sư phạm đều hướng đến đích giáo dục học sinh. Những tình huống sư phạm mà nguyên nhân là do giáo viên thì bản thân người giáo viên phải thực sự nghiêm khắc với chính mình để nêu gương tốt cho học sinh. Nếu giải quyết đại khái hoặc bỏ qua vì e ngại ảnh hưởng xấu đến uy tín giáo viên thì chỉ mang đến kết quả ngược lại (làm giảm hoặc mất uy tín trước học sinh) - Tôn trọng nhân cách của người học: Nguyên tắc này đòi hỏi phải đối xử với trẻ như một nhân cách đang phát triển, tránh thái độ coi thường, sỉ nhục học sinh dưới mọi hình thức. Những hành vi như mắng chửi, nhục mạ, đánh đập học sinh là trái với nguyên tắc này.
Giáo viên rất dễ tức giận khi gặp phải tình huống sư phạm mà nguyên nhân là do học sinh, họ dễ có những hành vi vi phạm vào nguyên tắc này và dễ dẫn đến mất đi sự tôn trọng của học sinh đối với giáo viên - Đồng cảm với người học: Người giáo viên phải biết đặt mình vào vị trí của người học để cảm nhận nhu cầu, nguyện vọng, niềm tin. Đồng cảm tạo ra sự gần gũi, thân mật, tạo ra cảm giác an toàn cho học sinh. Đồng cảm là cơ sở hình thành mọi hành vi ứng xử nhân hậu, độ lượng khoan dung, hợp tình hợp lý.