Chương 1. Một sô van dé chung về quyên đơn phương châm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và pháp luật hiện hảnh về quyên đơn phương châm dứt hợp đông lao động của người sử dụng lao đông Chương 2. Thực tiễn thực hiên pháp luật về quyên đơn phương chấm đứt hợp đồng lao động của người sử dung lao đông tại tinh Long An Chương 3. Một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật va nâng cao hiệu qua thực hiện pháp luật về quyên đơn phương châm dứt hợp đông lao động của người sử dụng lao đông tai tinh Long An CHƯƠNG1 MỘT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN BON PHƯƠNG CHAM DUT HOP DONG LAO ĐỘNG CUA NGƯỜI SU DUNG LAO ĐỘNG VA PHÁP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE QUYEN BON PHUONG CHAM DUT HOP DONG LAO ĐỘNG CUA NGƯỜI SU DUNG LAO ĐỘNG 11.
Méts6 vấn dé ly luận về quyền don phương chấm ditt hợp đông lao động của người sử dụng lao động 1. Khái niệm hợp dong lao động X#t về phương diện lich sử, luật lao đông ra đời tương đôi muộn so với các ngành luật khác. Vì vậy chế định hợp đông lao động cũng xuất hiện trong bồi cảnh luật về hợp đông dân sự đã có bê day về lí luận va thực tiến áp dụng. Cho nên ban đầu, hop đông trong lĩnh vực lao động nói riêng được điêu chỉnh bằng các quy định của luật dan sự.
Trước đây, một sô quốc gia như Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Trung Quốc quan niệm PLLD thuộc hệ thông luật tư và HĐLĐ là loại hợp đông dan sư hay nói cách khác là mang ban chất của hợp đông dan su. Điển hình như, án lệ ngày 02/07/1954 của nước Pháp ghi nhân “Hop đồng lao động là sự thôa thuận theo a6 một người cam kết tiễn hành một hoạt đông theo succhi dao ca người khác, lệ thuộc vào người đó và duoc tra công3, Ở Đức, Điều 611 Bộ luật dân sự của nước này có quy định: “Thông qua hợp đồng bên đã cam kết thực hiện một hoạt đông thì phải thực hiện hoat đông đó. còn bên kia có nghia vu trả thit lao theo thỏa thuận 3. Nói chung, các quan niệm này déu coi hợp đông lao đông tương tự như một loại hợp đông dịch vu dan sự.
Hé thông pháp luật Anh — Mỹ cũng có quan điểm tương tự. Các quy định vê quan hệ lao động theo hợp đồng, giao kèo ở Trung Quôc trước năm 1953 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng 2 Phun Thị Hồi Hing G019), “epđồng lao động theo guy định của Bộ luật Lao động ném 2019”, Luận vin thạc sĩ Luật học ,tr. 6 ` Bưndhiae Steckler (1996) — Sách chuyên khảo “Lui lao động và xã hột”, Nxh. Bielefeld 8 của Luật Dân sư.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học lao động vả những nhận thức mới về hang hóa sức lao động, hau hết các nước déu có những thay đổi nhat định trong quan niệm về hợp dong lao động. Do đó, bên cạnh luật dân sự được coi là cơ sở pháp lí chung cho các quan hệ hop đông thi trong việc điêu chỉnh quan hệ lao đông có những đạo luật néng như Luật về tiêu chuẩn lao động, Luật đơn phương châm dứt hợp đông lao động, Luật bão vệ lao động nữ, thanh, thiều niên. hoặc được quy định thông qua án lê. Theo Tô chức Lao động quốc tê (ILO), HDLD là: “Một thỏa thuận rang buộc pháp i} giữa một người sử dung ìao động và mét công nhân.
trong dé xác lập các điều kiện và ché độ việc iam”*. Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ đề cập tới chủ thé NLD là “công nhân” trong khi trên thực tê, “bất kì người nào aii tiêu chuẩm về độ tudi, năng lực đầu có thé là người lao đông” Tại Việt Nam, tử khi Chính phủ ban hanh Sắc Lénh sô 29/SL (năm 1947) về sự lam công đến nay, đã có rat nhiều văn bản pháp luật quy định vê HĐLĐ được ban hành. Theo đó, Điều 26 Bộ Luật Lao Đông (BLLĐ) 1994 (sửa đôi, bd sung năm 2002, 2006, 2007) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Hop đồng lao đông là sự thôa thuận giữa NLD và NSDLD về việc làm có trả công điều Hiện iao động quyền và ngiữa vụ của các bên trong quan hệ lao đông". Kê thừa và phát triển BLLĐ 1994, khái niệm về hợp đồng lao động cũng đã được quy định tại Điều 15 của BLLĐ 2012 như sau: “Hợp đồng lao đồng là sự thöa thuận giữa NLD và NSDLD về việc làm có trả lương.
điều kiên làm việc, quyên và nghĩa vụ của các bên trong quan hé lao động”. Như vây, khi ban về khái niệm của hợp đồng lao động, có thé thay hợp đồng lao động thực chat la sự thỏa thuận giữa hai chủ thể, một bên là NLD có nhu câu TG dt họ động quốc tỉ (1996), Tit ngữ quươ lệ cổng nghiệp và các Má niệm lin quem, Vănphông ho đồng quốc tt Đông A (ILO/EASMAT), Bing Coc ,tr. 63 5 Phan Thi Hii Hường (2019), “Hop dong lao đồng theo quy dinh cia Bộ luật Lao đông wan 2019), Luận vin thạc sĩ Luật hoc ,tr. 6 tìm việc làm, mét bên la NSDLĐ có nhu câu thuê NLD để mua sức lao dong.
Trong đó, NLD cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLD và đặt minh đưới sự quân ly của NSDLĐ va được NSDLD trả lương. Tuy nhiên, để phù hợp với sự thay đôi tinh hình kinh tế xã hôi của đất nước nói chung và thị trường lao động nói riêng, với yêu câu hội nhập kinh tê và khu vực, BLLĐ 2019 ra đời đã có su cải tiền, làm thay đôi cách nhìn nhận về ban chất của HĐLĐ và bao quát hơn về các trường hop được xét đến như một quan hệ lao động. Cụ thể, Khoản 1 Điều 13 BLLĐ 2019 đã sửa đôi quy định về khái niệm HĐLĐP như sau: “Hop đồng lao động là sự thôa thuận giữa người lao động và người sử dung lao đồng về việc làm cô trả công. điều kiên lao động quyền và nghữa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hop hai bên thỏa thuận bằng tên gọi Rhác nhưng có nội dung thê hiện về việc làm có trả công. tiền lương và sự quản I}, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hop đồng lao đông. ” Co thé thay, khác với BLLĐ 2012 chỉ căn cứ vao tên gọi của HĐLĐ để xac đình quan hệ lao động, BLLĐ 2019 đã thừa nhận quan hệ lao đông dựa trên các tiêu chí căn bản thuộc về ban chat của môi quan hệ. Hay nói cách khác, theo BLLĐ 2019, một quan hệ lao động tuy không được xác lap trên cơ sở hợp đông về mặt hình thức nhưng bản chat van là quan hệ sử dung lao động thì van được xác định là mét quan hệ lao động, chịu sự điều chỉnh của ngành luật lao đông.
Theo đó, các dau hiệu cơ bản được xét đến dé xác định là một HDLD theo BLLĐ 2019 bao gồm: Thứ nhất id, làm việc trên cơ sỡ théa thuận về một việc lam cu thể, Tint hai là, có sự quan lý, điêu hành, giám sát của một bên (NSDLĐ); Thứ ba id, có sự trà công hoặc tiên lương 112. Khái niệm đơn plurong cham ditt hop đông lao động Khai niệm cham dứt HĐLĐ 10 Trước hết, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, khái niệm “cham dứt hợp đông lao đông” được hiểu là: “ Sự kiên pháp i mà một hoặc cả hai bên không tiếp tuc thực hiện hop đồng lao động. chém dit quyền và nghia vu của hai bên đã thöa thuận trong hợp đồng iao đông Š. Từ khái niệm trên, có thé hiểu châm dứt HĐLP là việc một trong hai bên chủ thé của quan hệ lao động không tiếp tục thực hiện HĐLĐ, châm dứt toản bộ quyên va nghĩa vụ ma các bên đã thỏa thuận với nhau trong HĐLĐ.
Khai niệm đơn phương chấm ditt hợp đồng lao động Tương tự với các loại hợp đồng khác, HĐLĐ cũng sẽ có điều khoản quy định về thời gian thực hiện hợp đông của các chủ thé tham gia. Tuy nhiên, không phải lúc nào HĐLĐ cũng sẽ được thực hiện theo đúng thời gian như đã thöa thuận mà các bên trong HĐLĐ có thé châm dứt quan hệ hợp đông bởi nhiều căn cứ khác nhau. Đơn phương châm dứt HĐLĐ là một trong những phương thức cham đứt quan hệ lao động phô biến từ trước tới nay. “Đơnphương' theo Từ điển Tiếng Việt là: “có tỉnh chất của mat bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia".
Đơn phương châm dứt HĐLĐ là hanh vi pháp lý làm châm đứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ lao động. Theo quan điểm của TS. Nguyễn Hữu Chí về vẫn dé nay thi: “don pineong châm dit hợp đồng lao động là biện pháp mà các bên có thé sử dung khi những cam kết trong hop đồng lao đông không được thực hiện đúng, day đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp iuật””. PSG TS Tran Thị Thúy Lâm lại đưa ra quan điểm: “Don phương châm đứt hợp đồng lao động duoc hiểu là trường hop một trong các bên chấm dit quan hệ khi hop đồng vẫn còn thời han.
Việc chấm đứt nay hoàn toàn chi do ý chỉ của một bên chut thé mà không pm thuôc vào ý chi của phía bên kia’ * Trường ĐH Luật HN (1999), Từ điển gi thich thuật ngi¢ luật học (Luật lao đông, Luật đắt dea, Te pháp Quốc tố), Nxb. Công an nhân din, Hi Nội tr. Nguyễn Hữu Chỉ(2006),Si dk thờng tome lt lại dine TÊN me)„Nxb Tw pháp, Hi Nội,tr. Bee ty Tey Tim Hi “Nilag van cần sita đất về hop đồng lao đồng mong BG luật Lao đồng”, Tap chủ Luật học ,tr.2 ll Như vậy, từ các khải niệm được đưa ra bên trên, có thể định nghĩa đơn phương châm đứt HĐLĐ 1a một trường hợp châm dứt hiệu lực pháp ly của HĐLĐ trước thời hạn theo quy định của pháp luật bởi hành vi pháp ly đơn phương của một bên chủ thé trong quan hệ HĐLĐ mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
Thực chat, đây là hành vi thé hiện ý chi của một chủ thé không muốn tiếp tục thực hiện HĐLĐ, dẫn đến châm dứt quyên và nghĩa vu của hai bên theo HĐLĐ. Tuy nhiên, van có một số trường hợp luật định, HĐLĐ không được phép cham dứt mà hai bên bị buộc phải tiếp tục HDLD do hanh vi đơn phương châm dứt HĐLĐ đó trải pháp luật.