Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Bài viết phân tích pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, đóng góp từ tác giả Phạm Hồng Hạnh.

Chuyên ngành

Pháp luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sách

2020

381
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHOÁNG SẢN BIỂN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

1.1. Khai niệm khoáng sản biển và quản lý khoáng sản biển

1.1.1. Khái niệm khoáng sản biển

1.1.2. Khái niệm quản lý khoáng sản biển

1.1.3. Khái niệm pháp luật quốc tế về quản lý khoáng sản biển

Tóm tắt

I. Pháp luật quốc tế và quản lý tài nguyên khoáng sản biển

Pháp luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên khoáng sản biển. Các quy định quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS), thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc khai thác và bảo vệ tài nguyên biển. Quản lý tài nguyên khoáng sản biển không chỉ đảm bảo lợi ích kinh tế mà còn hướng tới phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển. Việt Nam, với tư cách là quốc gia ven biển, đã tích cực tham gia và tuân thủ các quy định quốc tế này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của khoáng sản biển

Khoáng sản biển được định nghĩa là các chất vô cơ tự nhiên, không tái tạo, có ý nghĩa kinh tế, bao gồm tài nguyên kim loại, phi kim loại và dầu khí. Khai thác khoáng sản biển đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường. Các quy định pháp lý quốc tế và quốc gia đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên này.

1.2. Quy định pháp lý quốc tế về khai thác khoáng sản biển

Luật biển quốc tế quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc khai thác tài nguyên biển. UNCLOS 1982 là văn bản pháp lý quan trọng, quy định về thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và vùng di sản chung của nhân loại. Các quốc gia phải tuân thủ các nguyên tắc công bằng và bảo vệ môi trường khi khai thác tài nguyên biển.

II. Thực tiễn quản lý tài nguyên khoáng sản biển tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về tài nguyên khoáng sản biển, đặc biệt là dầu khí. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành dầu khí, đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm nguy cơ ô nhiễm môi trường và tranh chấp chủ quyền biển đảo.

2.1. Chính sách quản lý tài nguyên biển của Việt Nam

Việt Nam đã xây dựng và thực thi các chính sách quản lý tài nguyên biển hiệu quả, đảm bảo khai thác bền vững. Chính sách quản lý của Việt Nam tập trung vào việc bảo vệ môi trường biển, phát triển công nghệ khai thác hiện đại và tăng cường hợp tác quốc tế. Các quy định pháp lý trong nước cũng được điều chỉnh để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

2.2. Thách thức và giải pháp trong quản lý tài nguyên biển

Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý tài nguyên biển, bao gồm nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và tranh chấp chủ quyền. Để giải quyết các vấn đề này, Việt Nam cần tăng cường bảo vệ tài nguyên biển, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Các giải pháp này sẽ giúp Việt Nam quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên biển, đảm bảo phát triển bền vững.

III. Phạm Hồng Hạnh và đóng góp trong lĩnh vực luật biển

Phạm Hồng Hạnh là một trong những chuyên gia hàng đầu về luật biển tại Việt Nam. Các nghiên cứu của bà tập trung vào việc phân tích và đánh giá các quy định pháp lý quốc tế về quản lý tài nguyên biển. Luật pháp quốc tế và Việt Nam là trọng tâm trong các công trình nghiên cứu của bà, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về luật biển trong nước.

3.1. Đóng góp của Phạm Hồng Hạnh trong nghiên cứu luật biển

Phạm Hồng Hạnh đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và phổ biến kiến thức về luật biển quốc tế. Các công trình của bà không chỉ giúp nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của Việt Nam trong việc quản lý tài nguyên biển mà còn góp phần vào việc xây dựng các chính sách pháp lý hiệu quả.

3.2. Giá trị thực tiễn của các nghiên cứu

Các nghiên cứu của Phạm Hồng Hạnh có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc áp dụng luật pháp quốc tế vào thực tiễn quản lý tài nguyên biển tại Việt Nam. Các giải pháp và đề xuất của bà đã góp phần vào việc cải thiện hiệu quả quản lý tài nguyên biển, đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE QUAN LÝ KHOANG SAN BIEN TRONG PHAP LUAT QUOC TE I. Khai niệm khoáng san biển và quan lý khoáng sản bien a. Khái niệm khoáng sản biển Hiệp ước Nam Cực năm 1959 là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra định nghĩa về tài nguyên khoáng sản. Theo đó, khoáng sản là “2á? cả các tài nguyên thiên nhiên không sinh vat, không tải tạo được bao gom các nhiên liệu hoa thạch, các khoáng sản kim loại, không kim loại nhưng không bao gầm băng, nước hay tuyết”.

Pháp luật của các quốc gia cũng có cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về khoáng sản: Một là theo cách mô tả đặc tính, Ví dụ Mục 3 Đạo luật khai thác mỏ khoáng sản của Đức quy định rằng khoáng sản là những lớp khoáng sản thuộc thê răn hoặc thê lỏng và khí xảy ra trong trầm tích hoặc các lớp chất tự nhiên trong lòng đất hoặc trên bề mặt trái 9 đất, trên đáy biên hoặc lòng đất dưới đáy bién'; hoặc theo quy định tại Đạo luật thiết lập một hệ thống mới trong khai thác, phát trién, sir dung va bao ton ngu6n tai nguyén khoang san cua Philippines, khoáng sản bao gồm tat cả các chất vô cơ tự nhiên dưới dang chat răn, khí, lỏng, hoặc bất kỳ trạng thái trung gian nào, không bao gồm các nguyên liệu năng lượng như than đá, xăng dau, khí đốt tự nhiên, chất phóng xa và năng lượng địa nhiệt (Mục 3)’; Hai là mô tả đặc tính kèm theo liệt kê như Điều 2 Đạo luật khoáng sản New Zealand quy định khoáng sản là có nghĩa là chất vô cơ tự nhiên xuất hiện dưới bề mặt trái đất, có hoặc không dưới nước; và bao gồm tất cả các khoáng chất kim loại, khoáng sản phi kim loại, nhiên liệu, đá quý, đá công nghiệp và đá xây dựng, và một chất được quy định trong Đạo luật năng lượng nguyên tử năm 19453 hoặc theo quy định tại Điều 4 Đạo ' Ví dụ Mục 3 Đạo luật khai thác mỏ khoáng sản của Đức quy định rằng khoángsản là những lớp khoáng sản thuộc thé ran hoặc thé lỏng và khí xảy ra trong tram tích hoặc các lớp chất tự nhiên trong lòng đất hoặc trên bê mặt trái đất, trên đáy biển hoặc lòng đất dưới đáy biển Xem: https://www./federal-mining-act-lex-faoc075676/, truy cập ngày 2/12/2020 Hoặc theo quy định tại Đạo luật thiết lập một hệ thống mới trong khai thác, phát triển, sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên khoáng sản của Philippines, khoáng sản bao gôm tất cả các chất vô cơ tự nhiên dưới dang chat ran, khí, lỏng, hoặc bat kỳ trạng thai trung gian nào, không bao gồm các nguyên liệu năng lượng như than đá, xăng dâu, khí đốt tự nhiên, chất phóng xạ và năng lượng địa nhiệt (Mục 3). Xem:https://www.ph/1isdata/2498321487!pdf truy cập ngày 2/12/2020 ? Xem: https://www.pdf, truy cập ngày 2/12/2020 > Xem: www.nz/act/public/1991/0070/76.html, truy cap ngay 5/12/2019 10 luật Khoáng sản Thái Lan, khoáng sản là tài nguyên địa chất vô cơ có thành phần hóa học và tính chất vật lý xác định hoặc biến đôi ở mức độ nhỏ, dù là yêu cầu nấu chảy hoặc ủ trước khi đưa ra sử dụng hay không, và bao gồm than đá, đá phiến dầu, đá cầm thạch, kim loại và xỉ có nguồn gốc từ luyện kim, nước mudi, đá theo quy định dé đá trang trí hoặc đá công nghiệp, đất sét, cát theo quy định để làm đất sét công nghiệp, cát công nghiệp, nhưng không bao gồm muối đá hoặc nước!. Dưới góc độ địa chat, tài nguyên khoáng sản được định nghĩa là “là một chất vô cơ tự nhiên hoặc hop chất có cấu trúc HỘi tại có trật tự và thành phần hóa học đặc trưng, dạng tinh thể và các tính chất vật lý "Š. Trên cơ sở định nghĩa trong Hiệp ước Nam Cực cũng như những cách tiếp cận trong luật khoáng sản một số nước, có thể định nghĩa khoáng sản biển là “chất vô cơ tự nhiên, không tái tạo, có ý nghĩa kinh tế, gom tài nguyên kim loại và không kim loại (tài nguyên xây dựng), tài nguyên dâu khí, ở thể răn, lỏng, khí trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nhưng không bao gom băng, nước hay tuyết”.

Khoáng sản biển có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, bản chất của khoáng sản biển là các chất vô cơ tự nhiên, không tái tạo, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đôi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Điều này 4 Xem: https://seven02.pdf, truy cập ngày 5/12/2019 > Xem: Bates, R., (1987), Glossary of geology (3ded., American Geological Institute, p. li có nghĩa là những chất vô cơ nhân tạo là sản phâm của quá trình sản xuất có sự tham gia của con người sẽ không phải là tài nguyên khoáng sản”. Thứ hai, khoáng sản biên gồm tài nguyên kim loại và không kim loại (tài nguyên xây dựng), tài nguyên dau khí, có thé tồn tại đưới bat kì trạng thái nào, ví dụ trạng thái răn, trạng thái lỏng hay trạng thái khí, trong đó, chủ yếu là trạng thái răn và trong một số trường hợp bao gồm cả nước nhưng nhìn chung không có nước, tức là không có các thành phần hóa học của nước, hay các kim loại hòa trong nước.

Khi xem xét luật khoáng sản của các quốc gia, sở di luật khoáng sản một số nước khi định nghĩa về khoáng sản đã loại trừ khoáng sản ở trang thai long là nguyên liệu năng lượng, như trường hợp của Philippines hoặc một số nước không quy định khoáng sản là nguyên liệu năng lượng thuộc phạm vi áp dụng của luật khoáng sản ví dụ như trường hợp của Việt Nam.’ Điều này xuất phát từ lý do mặc dù những nguyên liệu năng lượng như dầu mỏ, khí gas cũng là tài nguyên khoáng sản nhưng do đặc thù trong hoạt động š Ví dụ, xi măng là một chat vô cơ nhân tao. Quá trình sản xuất xi măng bao gồm nhiều bước khác nhau như tách chiết các nguyên liệu thô là canxi, silic, sắt, và nhôm; phan chia tỷ lệ, trộn lẫn, nghiền các nguyên liệu thô kể trên rồi đưa chúng vào lò nung, sau đó nghiền sản phẩm sau khi nung thành bột mịn, gọi là xi măng. ? Điều 1 Luật Khoáng sản Việt Nam quy định rằng: “Luật này quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng. sản chưa khai thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nước vẻ khoáng sản trong phạm vi đắt liền, lãnh hải, nội thủy lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khoáng sản là dầu khí; khoáng sản là nước thiên nhiên không phải là nước khoáng, nước nóng thiên nhiên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này”. LZ thăm dò khai thác và vị trí của những khoáng sản này chủ yếu năm bên ngoài lãnh thô quốc gia nên những hoạt động liên quan đến chúng sẽ được điều chỉnh băng một luật riêng. Thứ ba, khoáng sản biên là loại tài nguyên có ý nghĩa kinh tế đặc biệt. Một trong những loại khoáng sản biển dưới dạng ran được biết đến va cũng được khai thác chủ yếu là các khối đa kim, vỏ sắt mangan giàu coban và lưu huỳnh chứa đa kim loại.

Các khối da kim là sự kết tủa từ nước biển trên hàng triệu năm, được hình thành từ bề mặt của các đồng bang rộng lớn dưới đáy đại dương (độ sâu từ 4-5 km), thành phần có chứa niken, coban, sắt và mangan với nông độ khác nhau và có giá trị kinh tế từ 308 - 926 USD/tan. Vỏ sắt mangan giàu coban là những kết tủa từ nước bién dưới dang các lớp mỏng (lên đến 25 cm) trên các khôi đá của núi lửa ngầm và núi lửa năm ở độ sâu khoảng 400 đến 4.000 mét, tập trung tại thêm lục địa và bên ngoài thêm lục địa của các quốc gia năm ở phía Tây Thái Bình Dương với giá trị kinh tế từ 489 - 1. Lưu huỳnh chứa da kim loại là khoáng sản được phát hiện ở các đại dương vào năm 1979 và được khai thác nhằm thu về đồng, sắt, kẽm, bạc và vàng. Giá trị kinh tế của lưu huỳnh được tính trên tấn là 337 - 1.

® Vi dụ hiện nay, các hoạt động liên quan đến dầu mỏ và khí đốt của Australia sẽ được điều chỉnh bằng Đạo luật đầu mỏ ngoài khơi và khí đốt nhà kính năm 2006 trong khi những hoạt động liên quan đến khoáng sản khác sẽ được điều chỉnh bằng Đạo luật khoáng sản ngoài khơi năm 1994. ° Xem: Seong Wook Park (2012), Key Issues on the Commercial Development of Deep Seabed Mineral Resources, Papers from LOSI Conference “Securing the Ocean for the Next Generation”, the Law of the Sea Institute, UC Berkeley—Korea Institute of Ocean Science and Technology Conference, held in Seoul, Korea, May 2012, tr.79 13 Bên cạnh những khoáng sản tôn tại dưới dạng chất rắt như trên, những nhiên liệu hóa thạch có nguồn gốc từ sự phân rã và sự nén chat của thảm thực vật ở các khu vực dưới mực nước biển, gôm khí đốt va dầu mỏ đang được khai thác ở mực nước nông và sâu tại các khu vực thêm lục địa ở châu Phi, châu Mỹ, châu Á và châu Au, với sản lượng có giá trị 100 tỷ đô la một nam!°. Mặt khác, dầu được chế biến thành các dạng năng lượng khác như xăng, điện. được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống con người, là nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp hàng tiêu dùng.

Dầu khí là ngành công nghiệp tiền đề thúc đây các ngành công nghiệp khai khoáng, luyện kim, cơ khí, chế tạo phát triển và kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác phát triển. Thứ tư, khoáng sản biến tồn tại ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Tuy nhiên, không phải khoáng sản tồn tại ở vị trí nào cũng thuộc đối tượng quản lý của luật quốc tế. Những khoáng sản tại đáy biển và lòng đất dưới đáy biên phía trong đường biên giới quốc gia trên biển thuộc lãnh thổ của quốc gia ven biển (QGVB) thuộc đôi tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia.

Đối tượng quản lý của luật quốc tế sẽ gồm toàn bộ những khoáng sản nằm tại đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh thô quốc gia, bao gồm những khoáng sản tại thềm lục địa và khoáng sản tại Vùng - di sản chung của nhân loại (Vùng). Theo quy định tại Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS), thềm lục địa gồm “đáy biển và lòng dat dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của !9 Xem: International Seabed Authority (2016), Marine Mineral Resources https://www.jm/files/documents/EN/Brochures/ENG6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Pháp luật quốc tế quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn tại Việt Nam - Phạm Hồng Hạnh là một tài liệu chuyên sâu phân tích các quy định pháp lý quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách thức quản lý bền vững nguồn tài nguyên biển, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng khai thác tài nguyên. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các thách thức pháp lý, kinh tế và môi trường mà Việt Nam đang đối mặt, cũng như các giải pháp tiềm năng để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ quản lý năng lượng: Energy-Food-Water Security Nexus in Vietnam, nghiên cứu về mối liên hệ giữa an ninh năng lượng, lương thực và nước. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách sử dụng năng lượng tại Hà Nội cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý năng lượng hiệu quả. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phân tích khai thác tài chính đất đai tại Đà Nẵng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý và khai thác tài nguyên đất đai. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.