Chương 1: Một số van dé lý luận về giao kết hợp dong lao động và pháp luật hiện hanh vé giao kết hợp đông lao động. Chương 2: Thực trang quy định pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng lao động va thực tiễn thực hiện tai Công ty Cổ phan NOVAON DIGITAL. Chương 3: Một sô kiên nghị nhằm hoàn thiên quy định pháp luật về giao kết hợp đông lao đông va nâng cao hiệu quả thực hiện tại Công ty Cô phan NOVAONDIGITAL. 6 CHƯƠNG1 MỘT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO KET HOP BONG LAO DONG VA PHAP LUAT HIEN HANH VE GIAO KET HOP BONG LAO BONG 1.
Một số vấn đề lý luận về giao kết hợp đông lao động 1. Khái niệm giao kết hợp dong lao động Đề có thé tôn tại và phát triển trong xã hôi, các chủ thé cân phải tham gia vào các giao dịch nhất định thông qua việc trao đôi hàng hoá, dịch vụ - nói cách khác - là sự chuyển giao các lợi ích mà mình tạo ra dé đôi lai các lợi ích vật chất, tinh thân được tao ra bởi các chủ thé khác trong xã hội nhằm thea mãn nhu cau của mình. Để đạt được điều này, các chủ thé cân có những nguyên tắc nhất định trong mét khuôn khô pháp lý, đó là nguyên tắc ty do thỏa thuận, tự nguyên vả bình dang giữa các bên. Khái niém nay được mô hình hóa va được các nha khoa học pháp lý goi là “Hợp đông" 1 Hop đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu là “sự thod thuén giao ước giữa hai hay nhiều bên quy đình các quyén loi, nghia vụ của các bên tham gia thường được viết thành văn ban"? BLDS 2015 cũng có quy định tại điều 385 như sau "Hợp đồng là sự théa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc châm dứt quyên nghĩa vụ dân sự".
Theo đó, xét về bản chất, hợp đông là sư thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên, đông thời là kết quả của quá trình thương thảo va thông nhất ý chí giữa các bên nhằm làm phat sinh thay đôi, châm dứt các quyên và nghĩa vu của các bên đối với nhau (trừ những quyên và nghĩa vụ ma pháp luật quy định rằng không thé thay đôi hoặc châm đứt bang sự thoa thuận của các bên). Nên tảng của hợp đồng chính là sự tư đo, thông nhất ý chỉ. Dé có thé hình thành hợp đông với các quyền vả nghĩa vụ pháp ly rang buộc các bên, su đông thuan của hai bên được xem là nguyên tắc căn bản va không thể thiểu ` Tế Thi Hoàng Oanh (2021), Luận văn Thạc sĩ. Pháp luật về giao kết hợp đồng lao đồng và thực tiến thực hiện tại Công p: INHH Yusen Logistics Việt Nam Trường ĐH Luật Hà Nội ` Trig tâm Từ dién hoe (2011), Từ điền Tiếng Việt Nab Đà Nẵng Ỹ Trên thực té, có rat nhiêu loại hợp đông khác nhau được sử dung dé điều chỉnh môi quan hệ giữa các bên, vi du như Hợp đông kinh tế, hop đồng xây dung hợp đông mua bán, hợp đông thương mại, hop đông vận chuyển.
Tuy nhiên, để điều chỉnh môi quan hé đặc thù giữa NLD va NSDLĐ, pháp luật đã quy định một loại hợp đông cụ thé là HĐLĐ. HĐLĐ là cơ sở pháp lý chính thức xác lap môi quan hệ pháp lý giữa hai bên NSDLĐ và NLD, trong đó bao gồm việc thiết lập quyên và nghĩa vu pháp lý giữa các bên nay. Do vậy, có thé nói HĐLĐ là một phương tiện rất quan trong trong việc tao lập quan hệ lao đông. Hệ thông pháp luật của nhiều nước (như Pháp, Đức, Trung Quóc.) hau như xác định HĐLĐ là một loại của hợp đông dân sự.
Tô chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra định nghĩa về HĐLĐ có tính khái quát và thể hiện được bản chat của HĐLĐ nói chung như sau "Một thda thuận ràng buộc pháp I} giữa một.NSDLĐ và một công nhân trong dé xác lập các điều kiện và chê độ làm việc”3 Tại Việt Nam, định nghia mới nhất về HĐLĐ đã được Quốc hội nước Công hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 14 đưa ra rat cụ thể tại khoản 1 Điều 13 BLLĐ năm 2019. "Hợp đông lao đông là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao đông về việc lam có tra công tiên lương điều kiện lao động quyên va nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao đông ” Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên goi khác nhưng có nội dung thé hiện về việc làm có tra công tiền lương va sự quản lý, điều hành giám sát của một bên thì được coi là hợp dong lao đông. Khái niệm HĐLĐ của BLLD năm 2019 về cơ ban đã kế thêm khai niệm HĐLĐ của các BLLĐ trước đây là BLLĐ năm 1994 và năm 2012, chỉ khác ở một số nôi dung về “việc lam có tra công tra lương điều kiện lao đông và đặc biệt là về hình thức của HĐLĐ”. Có thể nói, khai niệm HĐLĐ mới nay đã phan ánh được ban chat của HĐLĐ, các yếu tô cơ bản câu thành HĐLĐ Su khác biệt về khái niệm HĐLĐ của BLLĐ 2019 so với các BLLD trước đây có thể được giải thích bởi sự khác nhau.
về lý luận khoa học luật lao ` Tổ chức Lao động quốc té (1908), Thuật ngữ quan hệ công ngiuệp và các khái niệm liên quan, Van phòng lao động quốc tê Đồng A (ILO/EASMAT), Bangkok § đông về truyền thống pháp lý, cũng như về điều kiện cơ sở kinh tê, xã hội nay dat nước. Sự thay đôi đáng kế trong khải mém HĐLĐ của BLLĐ năm 2019 liên quan đền đâu hiệu thực tế để nhận điện HĐLĐ là mét nỗ lực đáp ứng nhu câu phát triển của x4 hội thực tê hiện nay. Cu thé, theo quan điểm của BLLĐ năm 2019, trường hợp thỏa thuận giữa hai bên mang tên goi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc lam có trẻ công tiên lương va sự quan lý, điều hành, giảm sat của một bên thì thoa thuận đó van được coi là HĐLĐ Giao kết theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là "cam kết thực hiện”.* Như vậy, "giao kết HĐLĐ” có thể được hiểu là "đưa ra và cam kết những điều mà mỗi bên phải thực hiện trong HĐLĐ". Giao kết HĐLĐ là giai đoạn đâu tiên trong việc tao lập quan hệ lao đông của các bên.
Hanh vi giao kết HĐLĐ thé hiện ý chỉ thông nhất của các bên là điều kiện tiên quyết để ràng buộc các chủ thể trong mối quan hệ lao động. Chính vì việc giao kết hợp đông thể hiện ý chỉ của các bên nên sự giao kết bao giờ cũng có tính đích danh. Chủ thể tiễn hành đảm phán, thỏa thuận HĐLĐ chính là NLD va NSDLD- va phải là NLD va NSDLĐ, không ai khác có thé thay thé ho thực hiện công việc nay bởi lế đối tượng của việc giao kết HDLD là sự thoa thuận về một loại "hàng hóa đặc biệt" - "sức lao động". Loại hàng hóa đặc biệt nay gắn liên với chính bản thân các chủ thé tham gia giao kết.
Sức lao động lả của chính ban thân NLD, do vậy, chi ho mới có thể "bên sức lao đông của mình và cũng chính ho mới có thé san anh ra sức lao đông Còn NSDLD Ia bên trẻ ban dé nhận được loại hàng hóa đặc biệt đó từ phía NLĐ, việc NSDLĐ chỉ trả cho hàng hóa “sức lao đông” được thể hiện qua ngiĩa vụ tra công của NSDLĐ đôi với NLD. Qua sự phân tích ở trên có thé thay giao kết HĐLĐ là quá trình NLD và NSDLD đưa ra các điều khoản và cam kết thực hiện các điều khoản trong HĐLĐ Giao kết HĐLĐ chính là hình thức pháp Ij bày tô ƒ' chỉ nhằm at đến việc xác lập quan hệ lao động của hai bên NSDLĐ và NLD. Có thé nói, giao kết HĐLĐ là van để cốt lối trong môi quan hệ lao động đông thời là tiên để ban * Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt. Trung tâm từ điền học, Nxb Đà Nẵng 9 dau dé quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên được xác lập va được thực hiện trong tương lai.
Mặt khác, giao kết HĐLĐ cũng lả cơ sỡ cho sự ôn định, hai hoa và bên vững của quan hệ lao động được du kiến thiết lập Có thể căn cứ vào nhiêu tiêu chí khác nhau để phân loại việc giao kết hợp đông lao động. Thứ nhất, căn cứ vào phương thức giao kết có thé chia thành hai phương thức: giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp. Giao kết trực tiếp là việc người sử dụng lao động vả người lao đồng trực tiếp đàm phán, thỏa thuân và ký kết HĐLĐ. Các bên gặp gỡ, đàm phán và ký kết hop đông với nhau ma không phải thông qua một chủ thé nào khác, hai bên sẽ thöa thuận với nhau dé đạt được những lợi ích và nghĩa vụ tôi đa nhất.
Với phương thức này, người sử dung lao động có thể biết được những điểm mạnh, điểm yếu, tính cách, năng lực của người lao động để tù đó bô trí vào lam việc tại những vị trí thích hợp. Người lao động cũng sẽ biết được phong cách làm việc, yêu câu của người sử dụng lao động dé có cách lam việc phù hợp với yêu cau của người sử dụng lao đông. Tuy nhiên với phương pháp giao kết nay thì người sử dung lao đông sẽ tồn rat nhiêu thời gian như: Đảm phan và ký kết, đặc biệt là đối với người sử dụng lao động can giao kết hợp đồng với nhiêu người lao động thì can rất nhiều thời gian cho công việc nay. Giao kết hợp đồng lao đông gián tiếp là việc người sử dụng lao động không trực tiếp gp gỡ, thỏa thuận và dam phán với người lao đông, việc théa thuận và thông nhat quyên cũng như nghĩa vu sẽ thông qua người được ủy quyên.
Giao kết HĐLĐ theo phương pháp nay sẽ không dam bảo hết nguyện vọng cũng như mong muốn của người lao đông Tuy nhiên, người sử dung lao động không mất nhiêu thời gian cho việc thỏa thuận, dam phan và ký kết HĐLP. Trên thực tế, người sử dung lao đông chủ yêu thực hiện giao kết HĐLĐ theo phương pháp trực tiếp. Bởi đây lả phương pháp giúp người sử dung lao động nam bắt được kha năng thực sự của người lao động, có điều kiện đánh giá, so sánh khả năng của người lao động, để từ đó lựa chọn ra những người 10 lao động tốt nhất, chính xác nhật, đảm bảo được hai hòa quyền và lợi ích giữa các bên Thứ hai, căn cử vào hình thức hợp đông, chia thành hai loại giao kết hợp đồng lao động là giao kết hợp đông bằng văn ban và giao kết hợp đồng lao đông bằng lời nói.