Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chế định Thừa phát lại có lịch sử hình thành hơn 100 năm tại châu Âu, khởi nguồn từ Cộng hòa Pháp và du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc (năm 1862). Trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", chủ trương xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp đã đặt nền móng cho việc thí điểm và chính thức áp dụng chế định Thừa phát lại. Sau giai đoạn thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 24/2008/QH12, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (tại TP. Hồ Chí Minh) và Nghị quyết số 36/2012/QH13 (mở rộng ra 13 địa phương với 53 Văn phòng Thừa phát lại và 245 Thừa phát lại), Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 cho phép thực hiện chính thức chế định này trên phạm vi toàn quốc kể từ ngày 01/01/2016. Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thay thế các nghị định trước đây, hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động của Thừa phát lại.
Tại tỉnh Bắc Ninh — địa phương có vị trí cửa ngõ phía Bắc Thủ đô Hà Nội, thuộc tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và đứng thứ 12 cả nước về quy mô nộp ngân sách — sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh tế kéo theo nguy cơ phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp. Trong bối cảnh biên chế của hệ thống Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự không tăng, việc triển khai thiết chế Thừa phát lại là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu tạo lập chứng cứ, dự phòng rủi ro pháp lý cho người dân. Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình được thành lập tại huyện Gia Bình năm 2020; hoạt động thực tiễn tại đây phản ánh chân thực những thuận lợi, bất cập trong quá trình đưa quy định pháp luật vào đời sống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và kinh nghiệm quốc tế về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại.
- Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động lập vi bằng tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh) trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2023, đánh giá các kết quả đạt được, nhận diện khó khăn và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tế hoạt động lập vi bằng tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình cũng như trên toàn quốc.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình. Phạm vi nghiên cứu về nội dung giới hạn chuyên sâu trong hoạt động lập vi bằng theo quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, không đi sâu vào 3 chức năng còn lại của Thừa phát lại (gồm tống đạt giấy tờ, xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án). Về không gian và thời gian, đề tài khảo sát hoạt động lập vi bằng tại địa bàn huyện Gia Bình và tỉnh Bắc Ninh từ khi Văn phòng thành lập năm 2020 đến tháng 10/2023 (kết hợp số liệu sơ kết đến tháng 3/2023 của UBND tỉnh Bắc Ninh).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng cải cách tư pháp và các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung pháp lý và hệ thống khái niệm được xây dựng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu:
- Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW, Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội;
- Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
- Thông tư số 05/2020/TT-BTP ngày 28/8/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP;
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản về tài sản, thông báo, hợp đồng, nghĩa vụ);
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (quy định về chứng cứ, dữ liệu điện tử);
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tác giả kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong nước, tiêu biểu như: Đề tài cấp Bộ của TS. Nguyễn Đức Chính (2008), sách "Tổ chức Thừa phát lại" (2006); sách "Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay" của Vũ Hoài Nam (2013); Sổ tay Thừa phát lại của Bộ Tư pháp (2010); các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Anh Đức (2019), Nguyễn Huy Hoàng (2020), Nguyễn Thị Việt Hà (2020), Nguyễn Hữu Trọng (2020), Tô Đình Tỉnh (2020), Hoàng Đức Hoài (2019) cùng các bài báo khoa học chuyên ngành.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt từ Chương 1 đến Chương 3 để mổ xẻ các quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự lập vi bằng; phân tích số liệu thực tế tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình và luận giải các nhóm giải pháp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Dùng để phân biệt hoạt động lập vi bằng với hoạt động công chứng, chứng thực; đồng thời so sánh quy định pháp luật Việt Nam với mô hình Thừa phát lại tại Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Đại công quốc Luxembourg và Vương quốc Maroc.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để khái quát các đặc điểm pháp lý, nhóm các dạng vi bằng phổ biến, tổng kết số liệu thống kê hoạt động từ các báo cáo nghiệp vụ và rút ra các kết luận ở cuối mỗi chương.
Nguồn dữ liệu của đề tài gồm các văn bản luật, tài liệu thống kê chính thức từ Báo cáo số 08/BC-UBND ngày 09/8/2023 của UBND tỉnh Bắc Ninh sơ kết 03 năm thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, số liệu lưu trữ nội bộ của Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình và Báo cáo Digital Marketing Việt Nam năm 2022 của We Are Social.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại
Chương 1 làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm, giá trị và quy trình lập vi bằng:
- Khái niệm và đặc điểm: Dưới giác độ pháp lý, căn cứ Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động lập vi bằng mang 4 đặc điểm cốt lõi:
- Là hoạt động bổ trợ tư pháp: Hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giảm tải áp lực xác minh và giúp đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
- Do Thừa phát lại trực tiếp thực hiện: Thừa phát lại phải đích thân có mặt tại hiện trường, quan sát và chịu trách nhiệm độc lập về tính trung thực, khách quan; thư ký nghiệp vụ chỉ hỗ trợ ghi chép, đo đạc, ghi hình.
- Thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ: Tuân thủ quy trình thỏa thuận dịch vụ, lập biên bản và lưu trữ theo luật định.
- Bắt buộc phải đăng ký tại cơ quan quản lý: Vi bằng phải được gửi và vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở để phục vụ công tác giám sát nhà nước.
- Ý nghĩa: Hoạt động này vừa là phương tiện xác lập, lưu giữ nguồn chứng cứ kịp thời, khách quan trước khi khởi kiện, vừa là công cụ dự phòng rủi ro, thúc đẩy sự tin cậy trong các quan hệ dân sự, kinh tế.
- Quy định pháp lý hiện hành:
- Thẩm quyền và giá trị pháp lý (Điều 36): Thừa phát lại được lập vi bằng trên phạm vi toàn quốc. Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, chứng thực hay văn bản hành chính; là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc và là căn cứ thực hiện giao dịch hợp pháp.
- Các trường hợp cấm lập vi bằng (Điều 37): Gồm 8 nhóm trường hợp như xâm phạm an ninh quốc phòng, bí mật đời tư, xác nhận nội dung hợp đồng thuộc phạm vi công chứng/chứng thực, ghi nhận sự kiện nhằm chuyển quyền sử dụng đất/tài sản không có giấy tờ hợp lệ, giao dịch trái pháp luật, sự kiện thi hành công vụ của lực lượng vũ trang hoặc việc không do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến.
- Trình tự, thủ tục lập và đăng ký (Điều 38, 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Điều 30 Thông tư số 05/2020/TT-BTP): Lập thỏa thuận dịch vụ (02 bản); Thừa phát lại trực tiếp lập, ký từng trang, đóng dấu; trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc lập vi bằng phải gửi hồ sơ đến Sở Tư pháp; trong thời hạn 02 ngày làm việc Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký hoặc duyệt dữ liệu điện tử.
- Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát mô hình Thừa phát lại tại Pháp (thẩm quyền theo yêu cầu tư nhân hoặc lệnh của Thẩm phán, giá trị chứng cứ tuyệt đối trừ khi có chứng cứ khác thuyết phục hơn), Bỉ (ghi nhận thuần túy sự kiện vật chất bằng giác quan, không đưa ra tư vấn nguyên nhân/hậu quả), Luxembourg và Maroc.
Chương 2: Thực tiễn hoạt động lập vi bằng tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn hoạt động lập vi bằng tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh:
- Khái quát tổ chức: Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình được thành lập theo Quyết định số 430/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của UBND tỉnh Bắc Ninh, được cấp Giấy đăng ký hoạt động số 05/TP-ĐKHĐ ngày 08/10/2020 của Sở Tư pháp Bắc Ninh, trụ sở tại số 78 Lê Văn Thịnh, thị trấn Gia Bình. Cơ cấu gồm 4 Thừa phát lại (nguyên là chấp hành viên, điều tra viên, luật sư nghỉ hưu) và 3 Thư ký nghiệp vụ.
- Các dạng vi bằng phổ biến qua thực tế xử lý:
- Ghi nhận hiện trạng tài sản: Phổ biến trong việc xây dựng, sửa chữa công trình liền kề gây nứt lún, lấn chiếm lối đi, đổ vật liệu xây dựng chắn lối đi chung, làm căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Lĩnh vực hôn nhân và gia đình: Ghi nhận thỏa thuận tự nguyện phân chia tài sản chung, thỏa thuận nghĩa vụ trả nợ ngân hàng khi ly hôn nhằm hoàn thiện hồ sơ nhanh chóng, tiết kiệm án phí và lệ phí thẩm định giá.
- Ghi nhận việc giao thông báo: Phục vụ xử lý tài sản bảo đảm (Điều 300 BLDS 2015), chuyển giao quyền yêu cầu (Điều 365), đơn phương chấm dứt/hủy bỏ hợp đồng (Điều 423), thông báo đòi nợ hợp đồng vay (Điều 469, 470) và thông báo đòi lại nhà cho thuê.
- Ghi nhận buổi làm việc trong lĩnh vực thừa kế: Ghi nhận các bên họp bàn, cam kết từ chối nhận di sản, giao nhận tiền/tài sản thừa kế làm cơ sở thực hiện thủ tục công chứng, khai nhận sau đó.
- Ghi nhận dữ liệu trên Internet và thiết bị điện tử: Khai thác thông điệp dữ liệu theo Điều 99 BLTTDS 2015 để ghi nhận các hành vi bôi nhọ, đe dọa, vu khống, sử dụng trái phép hình ảnh trên mạng xã hội, tin nhắn trao đổi giao dịch phục vụ tranh tụng.
- Ghi nhận hành vi giao nhận tiền, thực hiện giao dịch dân sự: Xác lập chứng cứ giao tiền thực tế nhiều đợt trong mua bán, vay mượn, đầu tư nhằm phòng ngừa rủi ro thất lạc giấy tờ hoặc người làm chứng vắng mặt.
- Sự phối hợp liên ngành:
- Với Ngân hàng: Lập vi bằng ghi nhận quy trình thu giữ tài sản bảo đảm xử lý nợ xấu. Điển hình là Vi bằng số 600/2022/VP-TPLGB ngày 12/7/2022 ghi nhận Vietcombank Chi nhánh Kỳ Đồng thu giữ bất động sản tại TP. Ninh Bình của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Yên Khánh (theo Hợp đồng tín dụng số 0073/KHDN/16DH, dư nợ tạm tính đến 10/05/2022 là 47 tỷ đồng).
- Với Văn phòng Luật sư: Cung cấp nguồn chứng cứ khách quan, hợp pháp ngay từ giai đoạn tiền tố tụng để luật sư xây dựng phương án bảo vệ thân chủ.
- Với Văn phòng Công chứng: Lập vi bằng ghi nhận việc một bên không có mặt tại phòng công chứng đúng hạn để ký hợp đồng chuyển nhượng chính thức sau khi đặt cọc, làm căn cứ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên phạt cọc hoặc vô hiệu thỏa thuận đặt cọc.
- Kết quả thống kê: Số lượng vi bằng lập tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình tăng trưởng qua các năm. Giai đoạn 2020–2023, đơn vị đã lập 1.715 vi bằng, chiếm 26% tổng số vi bằng toàn tỉnh Bắc Ninh, xếp thứ 2/7 văn phòng trên địa bàn.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại
Trên cơ sở nhận diện các khó khăn về nhận thức xã hội và vướng mắc thực tiễn, Chương 3 đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức của các chủ thể: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật qua các phương tiện truyền thông để người dân, doanh nghiệp hiểu đúng về giá trị chứng cứ của vi bằng, phân biệt rõ vi bằng với văn bản công chứng/chứng thực, tránh tình trạng ngộ nhận hoặc lạm dụng lập vi bằng cho các giao dịch bất động sản không đủ điều kiện.
- Củng cố và hoàn thiện hành lang pháp lý: Kiến nghị tiếp tục nghiên cứu xây dựng Luật Thừa phát lại; cụ thể hóa và hướng dẫn rõ ràng hơn các trường hợp cấm lập vi bằng tại Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP; hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu vi bằng điện tử liên thông giữa các Sở Tư pháp để kiểm soát chặt chẽ việc đăng ký, tra cứu.
- Giải pháp cụ thể đối với Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thừa phát lại, thư ký; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật hiện đại (máy ghi âm, máy quay phim chất lượng cao phục vụ lập vi bằng hiện trường và dữ liệu số); tăng cường phối hợp chặt chẽ với cơ quan tư pháp, tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp kết quả hoạt động cụ thể qua các số liệu thống kê thực tế:
| Giai đoạn / Năm hoạt động |
Số lượng vi bằng được lập |
Tỷ lệ tăng trưởng |
Ghi chú vị trí trên địa bàn |
| 08/10/2020 - 07/10/2021 |
145 vi bằng |
- |
Giai đoạn đầu mới thành lập |
| 08/10/2021 - 07/10/2022 |
655 vi bằng |
Tăng ~4,5 lần |
Hoạt động đi vào ổn định |
| 08/10/2022 - 07/10/2023 |
998 vi bằng |
Tăng ~1,5 lần |
Nhu cầu người dân tăng mạnh |
| Tổng số (24/02/2020 - 31/3/2023) |
1.715 vi bằng |
Chiếm 26% toàn tỉnh |
Đứng thứ 2/7 văn phòng tại Bắc Ninh |
Các đóng góp chính của đề tài bao gồm:
- Về mặt lý luận: Khóa luận phân tích chuyên sâu hoạt động lập vi bằng như một đối tượng nghiên cứu độc lập (thay vì dàn trải cả 4 chức năng của Thừa phát lại), làm sáng tỏ các đặc trưng pháp lý và giá trị chứng cứ của vi bằng trong tố tụng dân sự.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về tổ chức và vận hành của một Văn phòng Thừa phát lại cấp huyện (Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh); phân loại chi tiết 6 nhóm dạng vi bằng điển hình và minh chứng bằng hồ sơ thực tế (như vụ việc xử lý nợ xấu của Vietcombank Chi nhánh Kỳ Đồng).
- Về mặt lập pháp và ứng dụng: Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập vi bằng, góp phần định hướng việc hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại và nâng cao chất lượng phối hợp giữa Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát, Ngân hàng và các tổ chức hành nghề công chứng, luật sư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu về chức năng lập vi bằng, chưa khảo sát toàn diện 3 chức năng còn lại (tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án). Dữ liệu thực chứng chủ yếu giới hạn tại địa bàn huyện Gia Bình và tỉnh Bắc Ninh trong khung thời gian từ cuối năm 2020 đến năm 2023, do chế định Thừa phát lại tại địa phương mới đi vào vận hành chính thức chưa lâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi đánh giá tác động của vi bằng khi được Tòa án các cấp đưa vào xem xét, đánh giá làm chứng cứ giải quyết các vụ án dân sự trên thực tế; nghiên cứu sự tương tác giữa dữ liệu vi bằng điện tử với hệ thống chuyển đổi số ngành tư pháp; khảo sát so sánh thực tiễn lập vi bằng giữa các địa bàn nông thôn và đô thị lớn trên cả nước.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự, Luật Tư pháp và Bổ trợ tư pháp làm tài liệu tham khảo nghiên cứu đề tài khóa luận, luận văn.
- Đội ngũ Thừa phát lại, Thư ký nghiệp vụ tại các Văn phòng Thừa phát lại tham khảo quy trình xử lý các dạng vi bằng phức tạp.
- Luật sư, Công chứng viên, Thẩm phán, Chấp hành viên và cán bộ pháp chế ngân hàng trong việc phối hợp tạo lập, sử dụng chứng cứ hợp pháp.
- Phần nội dung đáng giá:
- Hệ thống hóa chi tiết các căn cứ pháp lý và phân tích kỹ thuật nghiệp vụ đối với 6 dạng vi bằng thực tế (Chương 2).
- Quy trình phối hợp thực tế với Ngân hàng trong việc ghi nhận thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu và phối hợp với Văn phòng Công chứng xử lý tranh chấp đặt cọc bất động sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Vi bằng có thay thế được văn bản công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật không?
Không. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 và Khoản 4 Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác. Thừa phát lại bị nghiêm cấm lập vi bằng để xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền công chứng, chứng thực hoặc ghi nhận việc chuyển quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản không có giấy tờ hợp lệ. Vi bằng chỉ có giá trị là nguồn chứng cứ ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến để Tòa án xem xét và là căn cứ thực hiện các giao dịch hợp pháp.
2. Số lượng vi bằng được lập tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình biến động như thế nào trong giai đoạn 2020–2023?
Số lượng vi bằng tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình tăng trưởng liên tục qua các năm: từ 145 vi bằng (năm đầu tiên từ 08/10/2020 đến 07/10/2021) tăng lên 655 vi bằng (giai đoạn 2021–2022, tăng khoảng 4,5 lần) và đạt 998 vi bằng (giai đoạn 2022–2023, tăng khoảng 1,5 lần so với năm trước đó). Tổng cộng giai đoạn từ 24/02/2020 đến 31/3/2023, đơn vị đã lập 1.715 vi bằng, chiếm 26% tổng số vi bằng toàn tỉnh Bắc Ninh và xếp thứ 2 toàn tỉnh.
3. Thời hạn và thủ tục đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp được quy định ra sao?
Theo Khoản 4 Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Điều 30 Thông tư số 05/2020/TT-BTP, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng, Văn phòng Thừa phát lại phải gửi 01 bộ vi bằng kèm tài liệu chứng minh đến Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở (gửi trực tiếp, qua bưu chính hoặc cập nhật vào cơ sở dữ liệu). Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày cập nhật dữ liệu, Sở Tư pháp có trách nhiệm vào sổ đăng ký vi bằng hoặc duyệt nội dung cập nhật trên hệ thống để theo dõi, quản lý.
4. Trong trường hợp ngân hàng thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu, vi bằng thể hiện vai trò gì qua vụ việc thực tế tại khóa luận?
Vi bằng đóng vai trò là chứng cứ khách quan, minh bạch chứng minh ngân hàng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục thu giữ luật định (thông qua quyết định, kiểm tra hiện trạng, kiểm kê đồ đạc). Ví dụ tại Vi bằng số 600/2022/VP-TPLGB ngày 12/7/2022, Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình đã ghi nhận việc Vietcombank Chi nhánh Kỳ Đồng tiến hành thu hồi bất động sản của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Yên Khánh tại TP. Ninh Bình đối với khoản dư nợ 47 tỷ đồng, tạo nguồn chứng cứ pháp lý để ngân hàng đề nghị cơ quan chức năng hỗ trợ tiếp quản tài sản.
5. Những trường hợp nào Thừa phát lại tuyệt đối không được lập vi bằng?
Căn cứ Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại không được lập vi bằng trong các trường hợp: vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, bí mật nhà nước; xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, gia đình theo Điều 38 BLDS; xác nhận nội dung/ký tên thuộc phạm vi công chứng, chứng thực; ghi nhận sự kiện chuyển quyền sử dụng đất, tài sản không có giấy tờ hợp pháp; ghi nhận sự kiện nhằm thực hiện giao dịch trái pháp luật; ghi nhận hành vi đang thi hành công vụ của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang; ghi nhận sự kiện/hành vi không do chính Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Huyền Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, quy định pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về chế định Thừa phát lại nói chung và hoạt động lập vi bằng nói riêng. Thông qua việc phân tích chuyên sâu thực tiễn lập 1.715 vi bằng tại Văn phòng Thừa phát lại Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh) trong giai đoạn 2020–2023, công trình đã làm rõ tính hiệu quả, các dạng nghiệp vụ phổ biến cũng như những rào cản thực tế trong việc tạo lập chứng cứ bổ trợ tư pháp. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động của nghề Thừa phát lại tại Việt Nam.