Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình và lao động tại Việt Nam ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Sự gia tăng nhanh chóng của các tranh chấp dân sự đòi hỏi cơ chế giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) phải bảo đảm tính chính xác, công bằng và khách quan. Dù Tòa án là cơ quan duy nhất nắm giữ quyền tư pháp và ra phán quyết, việc thực thi quyền lực này luôn tiềm ẩn nguy cơ sai sót cả về tố tụng lẫn áp dụng pháp luật nội dung nếu thiếu đi cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu. Nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 tiếp tục khẳng định vai trò trọng yếu của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, đặc biệt là kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự (VADS) tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Xuất phát từ vị trí địa lý đặc thù và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh — nơi có địa hình chia cắt, trình độ dân trí và hạ tầng ở một số huyện miền núi còn hạn chế, các tranh chấp về đất đai và thừa kế có giá trị lớn ngày càng tăng — hoạt động kiểm sát của ngành Kiểm sát địa phương đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập trong thực tiễn. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại các Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Hà Tĩnh" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngân (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn cấp bách này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và khảo sát thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm tại các VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng thực thi. Để đạt được mục tiêu đó, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm sát giải quyết các VADS tại TAND cấp sơ thẩm.
  2. Làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát giải quyết VADS tại TAND cấp sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015.
  3. Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm sát giải quyết VADS trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2018 - 2022, chỉ ra những kết quả đạt được, vi phạm phổ biến của Tòa án và các vướng mắc, khó khăn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát tại địa phương.

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào hệ thống lý luận, các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự về kiểm sát giải quyết VADS cấp sơ thẩm và hồ sơ, số liệu thực tiễn thực hiện tại các VKSND ở tỉnh Hà Tĩnh. Phạm vi nghiên cứu về không gian là địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn kéo dài 05 năm (từ năm 2018 đến năm 2022). Khóa luận không đi sâu vào pháp luật nước ngoài và lịch sử lập pháp để tập trung giải quyết trực tiếp các vấn đề phát sinh từ thực tiễn địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chiến lược cải cách tư pháp. Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý trực tiếp được tác giả viện dẫn và đối chiếu bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 107 quy định chức năng, nhiệm vụ của VKSND);
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 4 về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp);
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 được dùng để so sánh);
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về hợp đồng, thời hiệu, giao dịch vô hiệu);
  • Luật Đất đai năm 2013 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/08/2016 quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu như: "Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015" (TS. Bùi Thị Huyền chủ biên, 2016; PGS. Trần Anh Tuấn chủ biên, 2017); đề tài nghiên cứu cấp trường "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự - Thực trạng và giải pháp" (Đại học Luật Hà Nội, 2020); các luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tại tỉnh Lạng Sơn (Nông Thị Nga, 2018), tỉnh Quảng Ninh (Phạm Thị Hoa, 2019), tỉnh Nam Định (Vũ Thị Thanh Dung, 2022); cùng các bài viết nghiệp vụ trên Tạp chí Kiểm sát của các chuyên gia trong ngành.

Phương pháp nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp nghiên cứu luật học chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để luận giải các khái niệm khoa học pháp lý, mổ xẻ từng điều luật trong BLTTDS năm 2015 và khái quát các nhóm sai phạm của Tòa án cấp sơ thẩm.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của BLTTDS năm 2015 với BLTTDS các thời kỳ trước nhằm làm nổi bật điểm tiến bộ và những điểm bất cập mới phát sinh.
  • Phương pháp thống kê xã hội học: Xử lý, lập bảng tổng hợp số liệu thực tế về số lượng thông báo thụ lý, số lượng bản án, quyết định đã kiểm sát, số phiên tòa có Kiểm sát viên (KSV) tham gia và số lượng kiến nghị, kháng nghị được ban hành tại Hà Tĩnh giai đoạn 2018 - 2022.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể và kết hợp lý luận với thực tiễn: Phân tích từng vụ án cụ thể xảy ra tại các địa bàn (Can Lộc, Hương Sơn, Nghi Xuân, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh...) để minh chứng cho các lập luận lý thuyết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về chế định kiểm sát việc giải quyết VADS tại TAND cấp sơ thẩm thông qua các nội dung cốt lõi:

  • Khái niệm: Kiểm sát việc giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra và giám sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng dân sự của TAND, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình giải quyết lần đầu tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; bảo đảm việc giải quyết đúng đắn, khách quan và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
  • Đặc điểm: Gồm 04 đặc điểm chính: (1) Thuộc thẩm quyền của VKSND cùng cấp và VKSND cấp trên trực tiếp; (2) Bao trùm toàn bộ quy trình giải quyết sơ thẩm từ khâu nhận đơn, thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa sơ thẩm; (3) Hướng đến mục tiêu bảo đảm tính pháp chế, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm và bảo đảm phán quyết được thi hành nghiêm chỉnh; (4) Hoạt động kiểm sát tại phiên tòa được thực hiện bắt buộc trong các trường hợp luật định theo Điều 21 BLTTDS năm 2015.
  • Ý nghĩa: Góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích Nhà nước và xã hội; bảo vệ kịp thời các nhóm chủ thể yếu thế (người chưa thành niên, người bị hạn chế/mất năng lực hành vi dân sự); đồng thời là công cụ hữu hiệu để kiểm soát và kiềm chế sự lạm quyền trong hoạt động tư pháp.
  • Cơ sở xác lập: Xuất phát từ cơ sở pháp lý (bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, yêu cầu khách quan của nguyên tắc hai cấp xét xử, nguyên tắc kiểm soát quyền lực) và cơ sở thực tiễn (điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, dân trí pháp lý chưa đồng đều, chế định luật sư/bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, số lượng và tính chất phức tạp của các VADS tăng nhanh).

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương này tập trung phân tích chi tiết các quyền hạn, nghĩa vụ và trình tự kiểm sát của VKSND theo BLTTDS năm 2015 qua 03 giai đoạn tố tụng:

  1. Kiểm sát giai đoạn tiếp nhận, xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án:

    • Trả lại đơn khởi kiện (Khoản 2 Điều 192, Điều 194): Thẩm phán phải nêu rõ lý do trả đơn và gửi văn bản cho VKS cùng cấp. VKS có quyền kiến nghị trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên, luật không quy định Tòa án phải gửi kèm tài liệu, chứng cứ nên KSV gặp khó khăn khi thẩm định tính có căn cứ của việc trả đơn; việc bỏ cụm từ "ngày làm việc" gây rủi ro hết thời hạn kiến nghị khi trùng vào các kỳ nghỉ lễ kéo dài.
    • Chuyển đơn khởi kiện (Điểm c Khoản 3 Điều 191): Luật chưa quy định cụ thể hình thức thông báo cho VKS và bỏ lửng quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của VKS khi đơn bị chuyển lòng vòng nhiều nơi.
    • Thụ lý vụ án (Điều 196): Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho VKS trong 03 ngày làm việc. Bất cập là chưa có chế tài ràng buộc trách nhiệm khi Tòa án chậm gửi thông báo hoặc không trả lời văn bản yêu cầu, kiến nghị của VKS.
  2. Kiểm sát giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

    • Lập hồ sơ và thu thập chứng cứ (Điều 48, 58, 59, 96, 97, 208-211): KSV kiểm sát phạm vi giải quyết, xác định quan hệ tranh chấp và tính hợp pháp của nguồn chứng cứ. Hạn chế lớn là luật không quy định VKS được trực tiếp tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà chỉ tiếp cận hồ sơ sau khi Tòa án chuyển giao.
    • Kiểm sát các quyết định tố tụng: Nhập hoặc tách vụ án (Điều 42); công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 205, 212 - ra quyết định sau 07 ngày lập biên bản hòa giải thành, gửi cho VKS trong 05 ngày làm việc); áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 139 - VKS chỉ có quyền kiến nghị Chánh án chứ không có quyền trực tiếp yêu cầu áp dụng); tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 214, 216, 217 - thời hạn gửi cho VKS là 03 ngày làm việc); quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220 - thời hạn 15 ngày nghiên cứu hồ sơ còn ngắn, Tòa án tự quyết định ngày xử dễ trùng lịch với các vụ án hình sự, hành chính); quyết định hoãn phiên tòa (Điều 233); bản án sơ thẩm và sửa chữa, bổ sung bản án (Điều 266, 268, 269 - thời hạn gửi bản án là 10 ngày kể từ ngày tuyên án).
  3. Kiểm sát hoạt động của Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm:

    • Làm rõ 05 nhóm vụ án VKSND bắt buộc tham gia phiên tòa theo Khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015 và Điều 27 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC: (1) Vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; (2) Vụ án có tranh chấp tài sản công, lợi ích công cộng; (3) Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ), nhà ở; (4) Vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất/bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (5) Vụ án Tòa án thụ lý mà chưa có điều luật áp dụng.

Chương 3: Thực tiễn kiểm sát và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả kiểm sát giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm tại các Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Hà Tĩnh

Dựa trên số liệu thực tế giai đoạn 2018 - 2022, tác giả phân tích bức tranh thực tiễn tại các VKSND ở tỉnh Hà Tĩnh với những kết quả và sai phạm điển hình:

Số liệu kiểm sát thông báo thụ lý vụ án dân sự (2018 - 2022): Trong 05 năm, các VKSND tại Hà Tĩnh đã tiếp nhận 9.102 thông báo thụ lý VADS từ TAND cùng cấp:

  • Thông báo gửi đúng hạn: 8.475 thông báo (chiếm 93,1%).
  • Thông báo gửi quá hạn: 621 thông báo (chiếm 6,9%). Riêng năm 2022, thụ lý 2.114 thông báo, số lượng quá hạn là 126 thông báo (chiếm 5,9%).

Bảng tổng hợp công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án (2018 - 2022):

Năm Tổng số bản án, quyết định đã kiểm sát Bản án sơ thẩm Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
2018 1.215 - - - -
2019 1.260 - - - -
2020 1.083 - - - -
2021 842 - - - -
2022 1.276 - - - -
Tổng cộng 8.451 1.655 (19,58%) 103 (1,15%) 1.017 (12,03%) 5.676 (67,16%)

Bảng tổng hợp công tác tham gia phiên tòa sơ thẩm và ban hành kiến nghị (2018 - 2022):

Năm Tổng số vụ án Tòa án đưa ra xét xử Số vụ án KSV tham gia phiên tòa Số kháng nghị phúc thẩm VKS ban hành Số bản kiến nghị VKS đã ban hành
2018 287 285 6 25
2019 358 355 8 27
2020 312 299 (95,8%) 4 21
2021 315 314 7 31
2022 383 385 11 37
Tổng cộng 1.655 1.638 (98,97%) 36 141

Các dạng vi phạm phổ biến của TAND được VKSND phát hiện qua thực tiễn:

  • Chậm gửi thông báo thụ lý và sai sót nội dung: Chậm gửi 24 ngày tại Can Lộc (Thông báo số 59/2021/TB-TLVA), chậm 18 ngày tại Hương Sơn (Thông báo số 34/2021/TB-TLVA do lũ lụt, sạt lở); không ghi rõ thủ tục giải quyết rút gọn hay thông thường (TAND Nghi Xuân); xác định sai quan hệ pháp luật từ tranh chấp QSDĐ thành tranh chấp ranh giới QSDĐ (TAND TP Hà Tĩnh); xác định sai tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thành người làm chứng (TAND TX Hồng Lĩnh).
  • Vi phạm trong xác minh, thu thập chứng cứ: Không đo đạc, xác định vị trí chân móng tường ranh giới (TAND Thạch Hà); không lấy lời khai người làm chứng và không tiến hành đối chất trước khi xét xử (TAND Lộc Hà); hồ sơ chia tài sản ly hôn không thu thập chứng cứ chứng minh nợ chung hay nợ riêng và thụ lý yêu cầu phản tố nhưng không thông báo nộp tạm ứng án phí (TAND Đức Thọ); để người khác viết hộ bản tự khai mà không do Thẩm phán tiến hành lấy lời khai theo Điều 98 BLTTDS (TAND TX Kỳ Anh).
  • Vi phạm về thời hạn ban hành, gửi bản án và quyết định: Quyết định đình chỉ gửi chậm 55 ngày (TAND Vũ Quang); ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong thời hạn 07 ngày thay vì sau khi hết 07 ngày theo Điều 212 BLTTDS (TAND Cẩm Xuyên); ra quyết định công nhận thỏa thuận quá hạn 06 ngày (TAND TP Hà Tĩnh); gửi bản án chậm 16 ngày (TAND Hương Khê); không gửi quyết định tạm đình chỉ và tiếp tục giải quyết vụ án cho VKS (TAND Nghi Xuân).
  • Vi phạm về nội dung phán quyết và áp dụng pháp luật: Bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (TAND TP Hà Tĩnh); không viện dẫn điều luật chuyên ngành Hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ nuôi con chung (TAND Lộc Hà); chia cả di sản của người không có yêu cầu khởi kiện, vượt quá phạm vi khởi kiện theo Điều 5 BLTTDS (TAND Hương Khê); định giá đất không công bằng giữa vị trí mặt ngõ và phía trong (TAND Hương Sơn); đánh giá sai chứng cứ dẫn đến công nhận giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn/lừa dối (TAND Lộc Hà); từ chối áp dụng thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu của bị đơn vi phạm Điều 184 BLTTDS và Điều 429 BLDS (TAND Kỳ Anh); áp dụng sai điều luật xét xử vắng mặt Khoản 2 Điều 229 thay vì Khoản 2 Điều 228 BLTTDS (TAND TX Hồng Lĩnh); buộc nộp tạm ứng án phí chia tài sản khi đương sự đã tự thỏa thuận trái Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 (TAND Nghi Xuân).
  • Vi phạm tại phiên tòa sơ thẩm: Không phổ biến quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 239 BLTTDS; không hỏi về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện theo Khoản 1 Điều 243 BLTTDS (TAND Kỳ Anh, Hương Sơn, TX Hồng Lĩnh); áp dụng nhầm căn cứ trả lại đơn khởi kiện (Điều 192) thay vì căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án (Điểm c Khoản 1 Điều 217) khi nguyên đơn rút đơn sau thụ lý (TAND TP Hà Tĩnh).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa toàn diện kết quả thực hiện chức năng kiểm sát tại các VKSND ở tỉnh Hà Tĩnh trong 05 năm (2018 - 2022):

  • Kiểm sát 9.102 thông báo thụ lý, kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục 621 trường hợp quá hạn.
  • Kiểm sát chặt chẽ 8.451 bản án và quyết định tố tụng các loại; trong đó quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự chiếm tỷ trọng lớn nhất (5.676 quyết định, tương đương 67,16%), bản án sơ thẩm chiếm 19,58% (1.655 bản án).
  • Tham gia 1.638 phiên tòa trên tổng số 1.655 vụ án Tòa án đưa ra xét xử (đạt tỷ lệ 98,97%); ban hành 36 kháng nghị phúc thẩm và 141 bản kiến nghị yêu cầu TAND khắc phục các vi phạm tố tụng.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015 theo hướng khi Tòa án gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện phải gửi kèm toàn bộ tài liệu, chứng cứ để VKS có cơ sở thẩm định, sao chụp.
    2. Sửa đổi quy định thời hạn kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều 194 BLTTDS thành "10 ngày làm việc" nhằm khắc phục trở ngại trong các kỳ nghỉ lễ dài.
    3. Quy định cụ thể về hình thức thông báo việc chuyển đơn khởi kiện cho VKS và bổ sung quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của VKS đối với hành vi chuyển đơn.
    4. Bổ sung cơ chế bắt buộc Tòa án phải trả lời bằng văn bản đối với các kiến nghị, yêu cầu của VKS; xác lập chế tài xử lý trách nhiệm khi Tòa án chậm trễ hoặc không thực hiện.
    5. Bổ sung quyền cho VKS được trực tiếp tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hoặc bắt buộc Tòa án phải gửi biên bản hòa giải cho VKS.
    6. Mở rộng thẩm quyền cho VKS được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp cần bảo vệ tài sản công, lợi ích công cộng hoặc bảo vệ người yếu thế.
    7. Tăng thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án của VKS (hiện là 15 ngày) và xây dựng quy chế phối hợp bắt buộc về việc thông báo, thống nhất lịch xét xử giữa Tòa án và Viện kiểm sát để tránh trùng lịch.
  • Giải pháp thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác: Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ KSV, Kiểm tra viên (KTV); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ và giao nhận văn bản tố tụng; hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa VKSND và TAND các cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các đề tài trước đây (vốn chỉ tập trung ở phạm vi một đơn vị cấp huyện hoặc các địa bàn như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nam Định) bằng việc cung cấp một khảo sát toàn diện, có hệ thống về thực tiễn kiểm sát VADS sơ thẩm trên toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong chu kỳ 05 năm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại các VKSND thuộc tỉnh Hà Tĩnh trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2022 và tập trung vào thủ tục sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015. Đề tài không nghiên cứu mở rộng về lịch sử lập pháp tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ cũng như không thực hiện so sánh luật học đối chiếu với pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia trên thế giới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang thủ tục kiểm sát giải quyết VADS theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh thực tiễn giữa các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ nhằm tìm ra các giải pháp liên vùng toàn diện hơn.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự, Luật Tư pháp khi nghiên cứu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và kỹ năng kiểm sát giải quyết án dân sự.
  • Đội ngũ KSV, KTV, Thẩm phán và Thư ký Tòa án tại tỉnh Hà Tĩnh cũng như các địa phương có điều kiện tương đồng; đặc biệt là phần phân tích các dạng sai phạm thực tế và các án điểm (về xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, định giá tài sản, chia thừa kế, thời hiệu khởi kiện và án phí).
  • Các nhà lập pháp và cơ quan tham mưu trong quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2015 và xây dựng các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2018 - 2022, các VKSND ở tỉnh Hà Tĩnh đã kiểm sát bao nhiêu bản án, quyết định và loại quyết định nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Theo thống kê tại Bảng 2 của khóa luận, các VKSND ở Hà Tĩnh đã kiểm sát tổng cộng 8.451 bản án, quyết định dân sự sơ thẩm. Trong đó, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chiếm số lượng lớn nhất với 5.676 quyết định (đạt 67,16%), tiếp đến là Bản án sơ thẩm với 1.655 bản án (19,58%), Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với 1.017 quyết định (12,03%) và Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với 103 quyết định (1,15%).

2. Tỷ lệ KSV tham gia các phiên tòa sơ thẩm tại TAND các cấp tỉnh Hà Tĩnh đạt mức bao nhiêu và năm nào có tỷ lệ thấp nhất? Trong giai đoạn 2018 - 2022, TAND các cấp mở 1.655 phiên tòa sơ thẩm, các VKSND đã cử KSV tham gia 1.638 phiên tòa, đạt tỷ lệ chung là 98,97%. Năm có tỷ lệ tham gia thấp nhất là năm 2020 (đạt 95,8%, tham gia 299/312 phiên tòa) do ảnh hưởng bùng phát nghiêm trọng của đại dịch Covid-19.

3. Tác giả chỉ ra những khó khăn gì từ quy định thời hạn kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều 194 BLTTDS năm 2015? Khoản 5 Điều 194 BLTTDS năm 2015 quy định thời hạn VKS thực hiện quyền kiến nghị là "10 ngày" kể từ ngày nhận văn bản (đã bỏ cụm từ "ngày làm việc" so với luật cũ). Bất cập nảy sinh khi Tòa án gửi văn bản trả lại đơn ngay trước các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Quốc khánh (nghỉ bù 4 ngày) hoặc Tết Nguyên đán (nghỉ 7 - 9 ngày), khiến VKS không có đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ và thu thập tài liệu để ban hành kiến nghị đúng hạn.

4. Dạng vi phạm nào của Tòa án trong việc ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự được phát hiện nhiều tại Hà Tĩnh? Tòa án thường vi phạm Khoản 1 Điều 212 BLTTDS năm 2015 về thời hạn ra quyết định. Điển hình như TAND huyện Cẩm Xuyên (Quyết định số 03/2021/QĐST-DS ngày 18/01/2021) ra quyết định công nhận thỏa thuận trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành (ngày 13/01/2021) thay vì phải đợi sau khi hết thời hạn 07 ngày; hoặc TAND TP Hà Tĩnh (Quyết định số 15/2022/QĐST-HNGĐ) ra quyết định quá hạn 06 ngày so với luật định.

5. VKSND các cấp tại Hà Tĩnh đã ban hành bao nhiêu bản kiến nghị trong giai đoạn nghiên cứu và vì sao hiệu lực kiến nghị vẫn còn hạn chế? Từ năm 2018 đến 2022, các VKSND ở Hà Tĩnh đã ban hành tổng cộng 141 bản kiến nghị yêu cầu TAND khắc phục vi phạm. Tuy nhiên, hiệu lực kiến nghị trên thực tế còn hạn chế do pháp luật tố tụng hiện hành chưa quy định rõ trách nhiệm bắt buộc Tòa án phải trả lời văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát và chưa có chế tài xử lý khi Tòa án chậm trễ hoặc không khắc phục vi phạm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngân là công trình nghiên cứu chuyên sâu, kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống lý luận của khoa học luật tố tụng dân sự với số liệu thực tiễn sinh động của ngành Kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2018 - 2022. Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò của VKSND trong việc kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm, phân tích sâu sắc các bất cập của BLTTDS năm 2015 và chỉ ra hàng loạt dạng vi phạm cụ thể của TAND các cấp tại địa phương. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện lập pháp cùng định hướng nghiệp vụ được đề xuất có giá trị thực tiễn rõ nét, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng công tác kiểm sát tư pháp và bảo vệ pháp chế tại địa phương.