MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết và lý do lựa chọn đề tài BLLĐ 2019 vừa mới có hiệu lực ngày 01/01/2021, đã bố sung các quy định mới về HĐLĐ. Từ đó, đưa ra một lối tư duy mới, một cách nhìn nhận mới về pháp luật HĐLĐ cũng như cơ chế nhận diện HDLD. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thé hướng dẫn về việc xác định các dau hiệu dé nhận diện HĐLĐ, cách thức áp dụng nhận diện các dau hiệu đó.
Vì vậy, dẫn đến tình trạng ton tại nhiều cách hiểu trên thực tế. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về nhận diện HDLD cũng phát sinh những hạn chế, cần sửa đối, bổ sung kip thời. Trước tính cấp thiết của việc hoàn thiện cơ chế nhận diện HĐLĐ trong BLLĐ 2019, hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu pháp lý nào làm rõ về vấn đề này một cách toàn diện, đi từ bản chất của HDLD, cũng như đặt nó trong bối cảnh phù hop với sự biến chuyển không ngừng của thị trường lao động. Cơ chế nhận diện HDLD mới chỉ được đưa ra thảo luận tại các buổi hội thảo, bàn luận trong các tạp chí chuyên ngành, hay được đánh giá là một điểm mới của BLLĐ 2019.
Trong khi đó, bản thân cơ chế nhận điện HDLD còn tôn tại nhiều hạn chế lớn mà chưa hề được đề cập đến. Mặt khác, dưới sự tác động của cuộc Cách mạng Công nghệ 4.0, thị trường lao động đã có nhiều biến chuyền rõ rệt cả về số lượng công việc, tính chất công việc, tính phức tạp của quan hệ lao động. Nhiều loại quan hệ lao động mới xuất hiện, song ban thân những quan hệ lao động mới này không mang day đủ những đặc điểm của một quan hệ lao động thông thường, hay thậm chí còn có thêm những đặc điểm đặc trưng của riêng nó. Nhận thức được vấn đề này, nhóm nghiên cứu nhận thay việc đặt ra một co chế pháp lý riêng điều chỉnh những loại quan hệ lao động đặc biệt này là thực sự cần thiết.
Dé làm được việc này, cần nghiên cứu đặc trưng của từng loại quan hệ lao động đặc biệt, làm rõ sự khác biệt của những quan hệ lao động đặc biệt này so với những quan hệ lao động thông thường. Cụ thể trong đề tài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu áp dụng cơ chế nhận diện HDLD đối với một quan hệ điển hình — quan hệ giữa các tài xế và các công ty kinh doanh mô hình đặt xe công nghệ. Một câu hỏi lớn về việc hợp đồng được xác lập giữa họ có phải là HDLD hay không được nhiều người đặt ra trong những năm gần đây. Đặc biệt, khi nhận thay quyén lợi của các tài xế (chủ thé làm việc tại các công ty kinh doanh mô hình đặt xe công nghệ và được nhiều người cho rằng vốn phải được coi là NLD) không được đảm bảo, họ phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình làm việc.
Việc không xác định rõ môi quan hệ giữa hai chủ thé này, dẫn đến việc phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa hai bên, gây mất trật tự an toàn xã hội, điển hình như các vụ biểu tình của các tài xế đối với công ty Grab vào năm 2020 khi không đồng ý về chính sách chiết khâu cước xe. Sau khi nhận diện, nêu có tôn tai HĐLĐ giữa các tài xê và các công ty 4 kinh doanh mô hình đặt xe công nghệ, nhóm nghiên cứu tiếp tục làm rõ những thuận lợi, khó khăn của việc điều chỉnh loại quan hệ này bằng pháp luật lao động. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị xây dựng một hành lang pháp lý riêng điều chỉnh quan hệ này. Với thực tế đặt ra như vậy, nhưng hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu, khảo sát nào liên quan đến đề tài.
Đối với nhóm nghiên cứu, vấn đề này có ý nghĩa quan trọng về cả phương diện pháp lý lẫn phương diện xã hội, tác động đến nhiều đối tượng. Xuất phát từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần phải cấp thiết và cần thiết thực hiện dé tài, dé tìm hiểu rõ những hạn chế của cơ chế nhận diện HĐLĐ, học hỏi kinh nghiệm từ các nước trên thế giới thông qua nhận diện từ mô hình đặt xe công nghệ, từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế nhận diện HDLD trong bối cảnh hiện nay. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nhận diện HDLD nói chung và việc nhận diện HDLD trong mô hình đặt xe công nghệ nói riêng ở Việt Nam cũng như trên thế giới là một trong những vấn đề mới trong pháp luật lao động, nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu luật pháp cũng như người dân. Song có nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra xung quanh vấn đề này.
Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tại các diễn đàn, hội thảo, luận án, luận văn đã có nhiều nghiên cứu, thảo luận về vấn đề này. Trên bình diện quốc tế, các nhà khoa học nghiên cứu cơ chế nhận diện HDLD từ thực tiễn hoạt động của mô hình đặt xe công nghệ dưới góc độ hoạt động của mô hình hay quan điểm về quan hệ lao động giữa tài xế và công ty kinh doanh mô hình đặt xe công nghệ. Nổi bật có thể kể tới nhiều công trình như: “The Regulatory Challenges of Uberization in China: Classifying Ride-Hailing Drivers" của tac giả Mimi Zou trong Tạp chí quốc tế và luật lao động so sánh, nghiên cứu về quan hệ lao động giữa tai xế va công ty kinh doanh mô hình đặt xe và các bản án giữa hai chủ thể này ở Trung Quốc; công trình “Ride-hailing drivers as autonomous independent contractors: Let them bargain!” của tác giả Ronald C.Brown đăng trên hiệp hội tap chí luật quốc tế trong đó phân tích sâu về tính chất công việc, lương thưởng thời giờ làm việc,.của tài xế mô hình đặt xe công nghệ và chỉ ra liệu rằng tài xế có thực sự là nhà thầu độc lập hay không hay là một NLD của công ty kinh doanh mô hình đặt xe công nghệ. Các công trình nghiên cứu tản mạn có đề cập trên một số tạp chí khoa học quốc tế, một số luận văn, luận án, giáo trình của các tác giả, các trường đại học nước ngoai,.déu la những nguồn tham khảo có giá trị.
Trên bình diện trong nước, có nhiều đề tài nghiên cứu viết về các chế định pháp ly của HDLD cũng như làm rõ các đặc điểm đặc trưng của loại hợp đồng nay, có thé kể đến như: Bài viết “Ban về khái niệm HĐLĐ” của tác giả Nguyễn Hữu Chi, in trên Tạp chí Luật học số 04/2002; Bài viết “HDLD — Công cụ lao động của NSDLĐ” của tác giả 5 Đỗ Thị Dung, in trên Tap chí Luật học số 11/2014; Luận án tiễn sĩ “ADLD trong cơ chế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Chí năm 2002;. Bên cạnh đó, có một số đề tài phân tích và bình luận những điểm mới về chế định HDLD giữa BLLĐ 2012 và BLLD 2019, có thể kế đến như: Luận văn thạc sĩ “⁄ÐLĐÐ trong BLLĐ 2019 — những điểm mới và tác động đến quan hệ lao động” của tác giả Phạm Thị Hải Yến năm 2020; Bài viết “Điểm mới của BLLĐ năm 2019 về khái niệm và hình thức HĐLĐ” của tác giả Phạm Thị Hồng My in trong Tạp chí Nghé luật số 03/2020; Sách tham khảo “Bình luận những điểm mới của BLLĐ 2019 ”do Tran Thị Thúy Lâm và Đỗ Thị Dung chủ bién,. Ngoài ra, trong bài viết “HDLD theo BLLĐ 2019 và vấn dé triển khai thực thi” của tác giả Trần Thị Thúy Lâm tại Hội thảo “BLLĐ và van đề triển khai thực thi” do Khoa pháp luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội tô chức có đề cập đến những điểm mới của HDLD. Nhìn chung, những bài viết, nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về HDLD và những chế định pháp lý xung quanh nó (bao gồm phân tích pháp luật hiện hành và so sánh, bình luận điểm mới).
Song, đối với cơ chế nhận diện HDLD chưa có một bài viết, hay nghiên cứu chuyên sâu nào làm rõ về van dé này. Đối với mô hình đặt xe công nghệ hiện nay có 03 đề tài nghiên cứu về cách thức hoạt động cũng như các chính sách quản lý mô hình này, bao gồm: Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về thương mại điện tử trong kinh doanh dịch vụ vận tải” của tác giả Nguyễn Hoài Anh — Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018; Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật kiểm soát hoạt động của taxi công nghệ ở Việt Nam” của tac giả Pham Quỳnh Hương — Trường Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2020; Luận văn thạc sĩ Luật học “Ride-hailing service in Vietnam market and Its impacts on travel behavior of local people” của tác giả Nguyễn Danh Minh — Trường Đại học Quốc gia Ha Nội năm 2019. Tuy nhiên, các luận văn này mới chỉ nghiên cứu mô hình hình đặt xe công nghệ dưới góc độ kinh tế - xã hội, từ đó đưa ra các cách thức quản lý nhà nước đối với loại hình thức hoạt động thương mại này. Đối với khía cạnh mối quan hệ của tai xế và các công ty kinh doanh mô hình này tuy đã được đề cập đến ở một vài tạp chí chuyên ngành, song mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra van đề, không đưa ra phân tích cũng như cách nhận diện mỗi quan hệ này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Thứ nhất, nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về quan hệ lao động nói chung và đi vào cụ thể đối với HĐLĐ. Thứ hai, dựa trên nghiên cứu lý luận về quan hệ lao động, HDLD, tìm hiểu, đánh giá sự phát triển của các quy định về HĐLĐ trong các giai đoạn trước đây. Thứ ba, tìm hiéu, phân tích những quy định, khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế và một số quốc gia trên thế giới về cơ chế nhận diện HĐLĐ; đồng thời, phân tích, đánh giá những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về nhận diện HDLD, đánh 6 giá mặt thuận lợi, hạn chế của quy định này. Từ đó, đưa ra sự so sánh, đối chiếu pháp luật giữa các quốc gia và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Ti tư, ap dụng những lý luận và quy định pháp luật về quan hệ lao động, HDLD vào mô hình đặt xe công nghệ dé đánh giá thực tiễn thực hiện cơ chế nhận diện HDLD và mức độ hoàn thiện của pháp luật lao động về van đề này.