Chương 1. NHỮNG VAN DE CƠ BẢN VE PHAP LUAT BẢO DAM THUC HIEN NGHĨA VU TRONG KINH DOANH NGAN HÀNG. Lý luận cơ ban về pháp luật bao dam thực hiện nghĩa vu trong kinh doanh ngân hàng. Cấu trúc pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân ¡b0.
Quan niệm về hoàn thiện pháp luật và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng.---«- 69 KET LUẬN CHƯNG. 2° 5s s©sES£Es£SEs£EEseEeESESeEsersesersrsee 74 Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUAT VE BAO DAM THUC HIỆN NGHĨA VỤ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG. Đánh giá việc thực hiện phương thức tác động và vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hang tal Viet Nam 011717.
Thuc trang quy dinh vé thanh lap, t6 chirc, hoat dong, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của chủ thé kinh doanh ngân hàng nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vu trong kinh doanh. -- - <2 1221113311332 3 E117 11 1 ng kg kg 90 2. Thực trạng pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thực trạng pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng trong mối liên hệ nhằm tăng cường bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hang 147 KET LUẬN CHƯNG 2.
KIEN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE BẢO DAM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG. Sự cần thiết và các mục tiêu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phương thức tác động và vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng.- - Q1 TH TH TH TH HH TH 163 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định về thành lập, tô chức, hoạt động, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của chủ thé kinh doanh ngân hang.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hang. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng trong mối liên hệ nhằm tăng cường bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng. - - --- «5s Họng HH ni nh 179 KET LUẬN CHƯNG 3. «2 5-< se eEseEsesecsEveEsrkeEseseEsesseserssee 184 KET LUẬN CHUNG .-- «<< =<<sss<eeeesseseseesssseseesses-sesse | 86 DANH MỤC TAI LIEU THAM KHẢO.---2- 5 scscs<cssexsess 187 DANH MỤC TU VIET TAT Tô chức tin dung TCTD Ngan hang NH Ngan hang thuong mai NHTM Ngan hàng Nha nước NHNN Quỹ tin dung nhân dân QTDND Tô chức tài chính vi mô TCTCVM Bảo hiểm tiền gửi BHTG Công ty tài chính CTTC Giấy tờ có giá GTCG Hội đồng quản trị HĐQT Hội đồng thành viên HDTV Uy ban Giám sát tài chính quốc gia UBGSTCQH DANH MỤC CÁC BANG BIEU VÀ SƠ DO Biểu do 1 | : Vốn điều lệ của các NHTM cỗ phan 92 Biểu đồ 2 | : Vốn điều lệ 17 ngân hàng có kế hoạch tăng vốn năm 2016 93 Sơđồ3 |: Thông tin về Han mức chỉ tra BHTM tại một số quốc gia | 122 PHAN MO DAU 1.
Tinh cấp thiết của đề tài Khi kinh tế thị trường phát triển cao, hệ thống ngân hàng có vị thế vô cùng quan trọng, vừa tác động vừa là một kênh phản ánh thực trạng nên kinh tế. Đặc trưng rủi ro của hoạt động ngân hàng, cùng với đó là tính nhạy cảm, đặt ra yêu cầu cần thiết tạo lập một cơ chế quản lý hữu hiệu, thiết lập các quy định bảo đảm an toàn. Nghiên cứu và đánh giá pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu cần thiết được đặt ra xuất phát từ những lý do sau đây: Một là, hệ thống các quy định của pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn còn những “lỗ héng” cần được sửa đổi, bổ sung. Chang hạn như Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng đã nêu cao vai trò quan trọng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - cơ quan được ví như “quả tim” của hệ thống.
Tuy nhiên, việc quy định phạm vi và giới hạn can thiệp của NHNN vào hoạt động của các chủ thé kinh doanh ngân hàng chưa rõ ràng, NHNN can thiệp trực tiếp vào hoạt động, tham gia vào tổ chức lại, thậm chí mua lại chủ thể kinh doanh trên thị trường với giá 0 déng.' Đồng thuận rằng hoạt động này của NHNN là nhằm ổn định thị trường, nhưng dang sau đó cũng đặt ra nhiều van đề pháp lý can quan tâm”. Hai là, việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh của các TCTD còn nhiều hạn chế”. Từ đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh "Nguồn: https://www. vn/web/home/vn/news/ | 5/05/cong-bo-quyet-dinh-chuyen-doi-mo-hinh-hoat- dong-ngan-hang-dai-duong.html&p=1, truy cập ngày 5.2017 “Kiến nghị làm rõ những 'điểm mờ' trong đại án Oceanbank(http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/ky-su-phap- dinh/dai-an-oceanbank-kien-nghi-lam-ro-nhung-diem-mo-40 1 685.html), truy cập ngày 30.2017 “Thủ tướng báo cáo tình hình KT-XH năm 2017; kế hoạch phát triển KT-XH 2018, mục II.
Hạn chế, yếu kém, http://baochinhphu.vn/Cac-bai-phat-bieu-cua-Thu-tuong/Thu-tuong-bao-cao-tinh-hinh-KTXH-nam-2017-ke- hoach-phat-trien-KTXH-2018/3 19930.vgp, truy cập ngày 5. ngân hàng, nhìn nhận thực tế thị trường thời gian qua cho thay, việc phát huy vai trò chủ động từ phía chủ thé kinh doanh còn hạn chế. Đầu tiên, có thé đưa ra điển hình một số nội dung như sau: pháp luật đặt ra các yêu cầu thành lập đối với chủ thê kinh doanh ngân hàng, trong đó tiêu chí hàng đầu là về vốn, nhưng trong thời gian dài sau khi quy định có hiệu lực áp dụng, nhiều ngân hàng không bảo đảm mức vốn quy định”. Trong từng nhóm hoạt động của TCTD như nhận tiền gửi, cho vay mặc dù các TCTD đều xây dựng quy chế về nghiệp vụ, pháp luật cũng ban hành các quy định điều chỉnh chỉ tiết, tuy nhiên thực tiễn triển khai và áp dụng các quy định này chưa triệt để, thêm vào đó một số quy định chưa phủ hop với điều kiện thực tiến thay đổi, dẫn đến hiệu quả quản lý không cao’.
Ba là, xuất phát từ thực tiễn thị trường trong thời gian qua đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả và thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể trong kinh doanh ngân hàng. Từ khủng hoảng 2008 đến nay, mặc dù nền kinh tế đã có những dấu hiệu phục hồi, nhưng những yếu kém tiềm 4n đã bộc lộ trong từng bộ phận của nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Các cơ quan quản lý đã áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, bao gồm: ban hành, sửa đổi văn bản quy phạm mới nhằm tăng cường quan lý điều hành, yêu cầu tái cơ cau hệ thống ngân hàng” và nhiều giải pháp khác.Tuy nhiên, thực tế thị trường cho thấy vẫn còn ton tại nhiều bất cập từ nội tại. Nợ xấu ở mức cao, sở hữu chồng chéo giữa các TCTD, nhiều TCTD hoạt động yếu kém, thua lỗ đe dọa ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền và an toàn hệ thống, quản lý và thực hiện quy trình trong hoạt động tại một số TCTD chưa hiệu quả ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền và uy tín của TCTD.
Trước thực trạng này, đồng thời với thách thức trong xu hướng hội “http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/van-con-12-ngan-hang-co-von-dieu-le-3000-ty-dong- 20140708 1606269171 1.chn, truy cập ngày 15.2017 “Văn kiện Đại hội đàng toàn quôc lần thứ XII, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm năm 2011-2015, phan II. Các hạn chế yếu ng "Năng lực tài chính, quàn trị, kiểm tra, giám sát nội bộ của một số tô chức tín dụng còn yếu, nợ xấu còn cao." “Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Dang (Khóa XI) đã ra Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 nêu rõ “Trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ câu lại thị trường tài chỉnh với trọng tâm là tái cơ câu hệ thống heels và các tô chức tài chính; tái co cầu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước” 2 nhập và toàn cầu hoá cao độ, áp lực và yêu cầu nâng cao năng lực của các chủ thể kinh doanh ngân hàng trong đó bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ trở thành mục tiêu vô cùng quan trọng, và cũng được coi là một giải pháp có tính chất dài hạn từ phía cơ quan quản lý nhằm bao đảm phát triển ổn định của thị trường. Dé làm được điều đó, không chỉ dựa vào sự chủ động của chủ thể kinh doanh, thường bị tác động bởi yếu té cạnh tranh trên thị trường tự do hóa, yêu cau hội nhập và lợi ích kinh tế, từ khía cạnh pháp luật, cần xây dựng cơ chế nhằm bảo đảm các chủ thể thực hiện nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh. Bên cạnh đó, qua kết quả kháo sát tại 10 tỉnh thành trên cả nước do nhóm nghiên cứu thực hiện, kết quả cho thấy, tỷ lệ đối tượng quan tâm đến pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng là cao nhất với 52 8%; 37,2% đối tượng được hỏi rất quan tâm.
Số liệu theo địa phương cho thấy tỷ lệ “rất quan tâm” và “quan tâm” chiếm tỷ lệ cao như Thành phố Hồ Chí Minh (93%), Hà Nội (90%), Hải Phong (87%)’. Điều này cho thấy nhu cầu cần làm rõ thêm vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vu của các tổ chức tín dụng trên thực tiễn. Bốn là, trên phương diện nghiên cứu luật học, có sự thiếu vắng công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật ngân hàng nói chung và đặc biệt qua đánh giá từ thực tế thị trường trong thời gian qua, nhóm nghiên cứu nhận thấy việc đánh giá toàn diện, có hệ thống quy định pháp luật hiện hành về việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng là cần thiết. Bởi vậy, đề tài “Hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng — Cơ sở lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết trên cả phương diện lý luận, pháp luật và thực tiễn.
"Báo cáo kết quả điều tra, trang 7 7) 2.