Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Trong khoa học luật hình sự, tội phạm và nội dung của khái niệm tội phạm là những vấn đề quan trọng nhất, nó phản ánh rõ nét và đầy đủ bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị - xã hội, cũng nhƣ những đặc điểm pháp lý của luật hình sự quốc gia, đồng thời, nó còn "đƣợc xem nhƣ là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác.
Theo pháp luật hình sự hiện hành ở nƣớc ta, khái niệm tội phạm đƣợc các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1999. Theo đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Do đó, khái niệm một tội phạm cụ thể - tội trộm cắp tài sản, chính là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung) đã nêu ở trên. Trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học và căn cứ vào các quy định của BLHS năm hiện hành, khái niệm tội trộm cắp tài sản đƣợc định nghĩa nhƣ sau: 7 Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, được thực hiện bởi người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản.
Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản a) Khách thể của tội trộm cắp tài sản "Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhƣng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [7, tr. Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu. Sau khi đã chiếm đoạt đƣợc tài sản, ngƣời phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết ngƣời hoặc gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác thì tuỳ từng trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết ngƣời hoặc tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác. b) Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Mặt khách quan của một tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của tội phạm nếu điều luật quy định và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của tội phạm.
* Về hành vi phạm tội Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên ngƣời phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhƣng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút. Đặc trƣng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải có trong ý thức của ngƣời phạm tội. Nếu ngƣời phạm tội mong muốn che giấu hành vi bất hợp pháp của mình nhƣng trong thực tế lại không che giấu đƣợc thì vẫn bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản. “Lén lút chiếm đoạt tức là có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt đối với ngƣời quản lý tài sản.
Đối với 8 ngƣời xung quanh nơi để tài sản, thông thƣờng kẻ trộm cũng muốn che giấu hành vi để trách việc phát hiện hoặc chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi. nhƣng điều này không ảnh hƣởng đến việc định tội. Điều quan trọng là xác định đƣợc ý thức che giấu đối với chính ngƣời có trách nhiệm quản lý tài sản, dù rằng trên thực tế không che giấu đƣợc” [30, tr. * Về đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản: Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, ngƣời phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của ngƣời chủ sở hữu.
Theo luật dân sự Việt Nam, tài sản có nhiều hình thức khác nhau. Điều 163 BLDS Việt Nam 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu nhất định của con ngƣời, tổn tại dƣới một dạng nhất định, nằm trong sự chiếm hữu của con ngƣời, có đặc trƣng giá trị và trở thành đối tƣợng của giao lƣu dân sự. Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản.
Khi là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản, vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con ngƣời. Đối với trƣờng hợp ngƣời chủ sở hữu chủ động từ bỏ quyền sở hữu của mình và dịch chuyển tài sản ra khỏi phạm vi quản lý, thì tài sản này đƣợc coi là tài sản vô chủ, hành vi lấy đi loại tài sản này không bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản. Tài sản là đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản còn có thể là tiền, các loại giấy tờ trị giá đƣợc bằng tiền. Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nƣớc ngoài.
Ngoài tính chất là tài sản của ngƣời khác, tài sản bị chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản phải là tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu của ngƣời chủ. Nằm trong sự chiếm hữu của ngƣời chủ có nghĩa là tài sản này đang chịu sự chi phối về mặt thực tế của ngƣời chủ tài sản hoặc ngƣời quản lý tài sản. Ngƣời chủ tài sản có thể thực hiện các quyền sở hữu về tài sản nhƣ sử dụng, định đoạt tài sản. hoặc tài sản đang đƣợc cất giữ, bảo quản tại địa điểm nhất định.
9 Tuy nhiên đối với đối tƣợng đặc biệt tồn tại ở dạng thông tin, nhất là các sản phẩm công nghệ cao, các phầm mềm, tài khoản truy cập mạng v.v…hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau: quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi trộm các tài sản tồn tại ở dạng thông tin, tài khoản công nghệ cao không phạm tội trộm cắp tài sản vì đối tƣợng tác động trong trƣờng hợp này là một dạng thông tin lƣu thông trong các phƣơng tiện máy móc và không thể coi thông tin là tài sản. Vì lý do trên, ngƣời có quan điểm này cho rằng hành vi trộm các dạng sản phẩm công nghệ cao (không tồn tại ở dạng vật chất cụ thể) phải bị xử lý về các tội liên quan đến các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi trộm các dạng sản phẩm công nghệ cao cấu thành tội trộm cắp tài sản vì thông tin công nghệ cao có thể trở thành đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, vì theo Điều 163 BLDS Việt Nam năm 2005, thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Sản phẩm công nghệ cao phải đƣợc coi là một dạng đặc thù của vật theo quy định trên, hơn nữa là đối tƣợng của quyền sở hữu trí tuệ - tức quyền tài sản. Hành vi trộm các dạng sản phẩm công nghệ cao trên xâm phạm tới quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu. Ngƣời phạm tội đã lén lút lấy đi thông tin và sử dụng cho mục đích cá nhân. Tài sản này đang nằm trong sự sở hữu của ngƣời khác.
Vì thế hành vi lén lút trộm các dạng sản phẩm công nghệ cao là một dạng đặc thù của tội trộm cắp tài sản. * Về hậu quả Hậu quả của tội trộm cắp tài sản cũng là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản bị chiếm đoạt do hành vi trộm cắp gây ra là tiền các loại, hàng hoá và các giấy tờ có giá trị thanh toán nhƣ phiếu công trái, ngân phiếu v. Theo luật hiện hành, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt 10 dƣới 2.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm.
c) Chủ thể của tội trộm cắp tài sản "Chủ thể của tội phạm là con ngƣời cụ thể, có năng lực TNHS và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật. Ngoài ra chủ thể của tội phạm có thể có thêm dấu hiệu mang tính chất tùy nghi, đó là các chủ thể đặc biệt trong một số tội quy định tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự" [7, tr. Đối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tƣơng tự nhƣ đối với tội xâm phạm sở hữu khác. Tuy nhiên, ngƣời phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản nếu phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
d) Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Cũng nhƣ đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng đƣợc thực hiện do cố ý. Ngƣời phạm tội mong muốn cho hậu quả xẩy ra, ngƣời phạm tội mong muốn có đƣợc tài sản của ngƣời khác để thoả mãn những nhu cầu của bản thân hoạc của bất kỳ ngƣời nào mà ngƣời phạm tội quan tâm [38, tr. Mục đích của ngƣời phạm tội là mong muốn chiếm đoạt đƣợc tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản của ngƣời phạm tội bao giờ cũng có trƣớc khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sản.
Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội trộm cắp tài sản.