Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIỂM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Để làm rõ khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tác giả đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ chung nhất, theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người khác để mưu lợi.
Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, nhằm giấu giếm nội dung sai sự thật (ít, nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người khác tin, nhầm, tưởng giả là thật để chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất khác hoặc che giấu một việc làm xấu. Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành động chiếm đoạt, nó thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nói dối, dùng giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức, có quyền. Từ định nghĩa trên, lừa đảo có các đặc trưng như thủ đoạn gian dối, đánh lừa người khác để mưu lợi, lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền sau hành động chiếm đoạt. Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mang các đặc trưng của tội phạm đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xếp vào nhóm các tội phạm “xâm phạm về sở hữu” nên nó còn mang những đặc điểm của nhóm tội phạm này:“Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.”[11, tr4] 6 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội độc lập ngoài những đặc trưng của nhóm tội xâm phạm sở hữu còn có đặc điểm riêng biệt: “Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. …” Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ lý luận như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện bằng các thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Bất cứ tội phạm nào cũng đều xâm hại một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ, bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó. Trong mối tương quan với tội phạm nói chung, nhóm tội phạm và tội phạm cụ thể có khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong đó, khách thể chung của tội phạm được hiểu là tổng hợp những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và có thể bị tội phạm xâm hại.
Khách thể chung được quy định tại Điều 1 và Điều 8 BLHS 1999. Khách thể loại của tội phạm được hiểu là nhóm các quan hệ xã hội cùng hoặc gần tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị nhóm các tội phạm xâm hại. Khách thể loại được quy định tại chương 7 phần các tội phạm, mỗi chương được xây dựng dựa trên một khách thể loại. Khách thể trực tiếp của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội cụ thể, được quy phạm pháp luật hình sự cụ thể bảo vệ và bị tội phạm cụ thể xâm hại.
Một tội phạm có thể xâm hại nhiều quan hệ xã hội khác nhau, nhưng trong đó chỉ có một hoặc một số quan hệ xã hội bị xâm hại có tính chất của khách thể trực tiếp. Khách thể trực tiếp dựa vào cấu thành cơ bản của một tội cụ thể. Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, đây vừa là khách thể loại vừa là khách thể trực tiếp của loại tội phạm này. Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt.
Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác được pháp luật quy định. Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm, không thể không tìm hiểu đối tượng tác động của tội phạm, vì mỗi tội phạm đều xâm phạm tới khách thể nhất định thông qua việc tác động đến đối tượng cụ thể. Các bộ phận cấu thành nên khách thể bị hành vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đối tượng tác động của tội phạm. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.
Vì vậy đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản, nhưng không phải mọi tài sản đều có thể trở thành đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để trở thành đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tài sản đó phải có những đặc điểm nhất định, trước hết, tài sản đó phải là tài sản của người khác, đang có sự quản lý. Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của mình, do mình 8 quản lý hoặc tài sản không nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị bỏ quên, đánh rơi, tài sản vô chủ hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành tội khác như tội chiếm giữ trái phép tài sản Điều 141 BLHS 1999. Tài sản đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể có thể có giá trị và giá trị sử dụng. Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản”.
Trong đó “Vật”, “tiền” là đối tượng tác động chủ yếu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đối với các tài sản đặc thù pháp luật có quy định riêng như: Tàu bay, tàu thủy, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự … không là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà nó sẽ là đối tượng tác động của tội phạm khác như: tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ Điều 221; tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Điều 230 BLHS 1999. Cần lưu ý là đối với tiền chỉ gồm tiền VNĐ và tiền ngoại tệ, đối với các loại “tiền ảo” như Swisscoin, Bitcoin, Onecoin, Gem coin, IL coin… được sử dụng trong thanh toán cho các giao dịch thương mại điện tử và giao dịch điện tử khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam các dạng “tiền ảo” không phải là tiền tệ do đó không là tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam, nên đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền ảo, sẽ không bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999. Nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng, vì trên thực tiễn chỉ ra rằng, nguyên nhân dẫn đến việc xử lý chưa đúng người phạm tội là do chưa xác định đúng đối tượng tác động của tội phạm.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm gồm: hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội, hậu quả 9 nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm, cũng như những biểu hiện bên ngoài khác như: công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội… Biểu hiện thứ nhất thuộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi khách quan của tội phạm là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển, có tính chất nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong BLHS. Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối.