CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI HÀNH HẠ NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội hành hạ người khác 1. Khái niệm tội hành hạ người khác Để hiểu thế nào là tội hành hạ người khác thì trước tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm tội phạm trong luật hình sự Việt Nam. Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy về mặt lý luận để một hành vi được xem là tội phạm thì cần phải thỏa mãn đủ 4 dấu hiệu pháp lý là: hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Tội hành hạ người khác là một trong những tội thuộc Chương XIV Phần thứ hai BLHS, tức là thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Do đó, tội hành hạ người khác ngoài những dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm thì còn có những dấu hiệu pháp lý riêng như về khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Cụ thể, Điều 140 BLHS quy định tội hành hạ người khác như sau: “Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ 8 đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Có thể nhận thấy Điều 140 BLHS không quy định cụ thể khái niệm tội hành hạ người khác mà chỉ tập trung mô tả mặt khách quan là hành vi hành hạ người lệ thuộc mình. Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì “hành hạ” nghĩa là làm cho đau đớn, khổ sở hoặc nhục nhã, ê chề [36, tr.780], còn theo từ điển Tiếng Việt của Ban biên soạn Từ điển Vietnambooks, thì hành hạ là làm cho đau đớn, khổ sở [2, tr. Như vậy, trong các từ điển Tiếng Việt thì hành hạ được hiểu là làm cho người khác đau đớn, khổ sở. Làm nhục là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “nhân phẩm” là phẩm chất và giá trị con người, còn “danh dự” là sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp [30]. Về mặt pháp lý hình sự thì một số tác giả cũng có quan điểm khác nhau về khái niệm hành hạ người khác như sau: Tác giả Trần Văn Luyện cho rằng: “hành hạ người khác là hành vi đối xử tàn ác như: gây đau đớn về thể xác, đè nén, áp bức về tinh thần người bị lệ thuộc” [10, tr. Trong khi đó, theo Bình luận khoa học BLHS của tác giả Đinh Văn Quế thì: “hành hạ người khác là hành vi của một người đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình một cách có hệ thống (lặp đi lặp lại nhiều lần) gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ” [14, tr. Theo Bình luận khoa học BLHS của TS.
Nguyễn Đức Mai chủ biên thì: Làm nhục người khác là hành vi của một người dùng lời nói hay hành động làm ảnh hưởng nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Việc xúc phạm này thể hiện bằng lời nói như: chửi rủa, xỉ nhục ở nơi đông người… hay có những hành động có tính chất bỉ ổi như: nhổ nước bọt vào mặt, ném phân… [11, tr. Theo quan điểm cá nhân tác giả thì hành vi đối xử tàn ác là làm cho nạn 9 nhân đau đớn về thể xác và đè nén, áp bức về tinh thần như: đánh đập, giam hãm không cho ra khỏi nhà, bắt nhịn ăn, uống, không cho mặc đủ ấm… Hành vi làm nhục nạn nhân như: chửi rủa, xỉ vả nạn nhân trước đám đông, tung tin đồn nhảm để người khác tưởng là nạn nhân thật sự xấu xa, tội lỗi… Trên cơ sở kết hợp giữa dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm và dấu hiệu pháp lý riêng của tội hành hạ người khác chúng ta có thể mô tả khái quát khái niệm tội hành hạ người khác như sau: “Tội hành hạ người khác là hành vi đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý”. Dấu hiệu pháp lý của tội hành hạ người khác 1.
Dấu hiệu pháp lý chung Do tội hành hạ người khác là một tội phạm được quy định tại trong BLHS năm 2015 nên cũng phải thoả mãn đầy đủ bốn dấu hiệu của tội phạm là: hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. - Tính nguy hiểm cho xã hội: đây là dấu hiệu đầu tiên để xác định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không, dấu hiệu về tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng và quyết định các dấu hiệu khác. Vì vậy, một hành vi phạm tội thì trước hết hành vi đó phải có tính chất nguy hiểm cho xã hội, tức là hành vi đó đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [13,tr. Trong tội hành hạ người khác thì hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội là hành vi đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình gây tổn hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị hành hạ.
- Tính có lỗi: Lỗi là biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Nếu không có lỗi thì 10 không bị coi là tội phạm. Trong tội hành hạ người khác, lỗi phạm tội luôn là lỗi cố ý thực hiện các hành vi hành hạ người lệ thuộc mình. - Tính trái pháp luật: theo quy định tại Điều 2 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về trách nhiệm hình sự như sau: “1.
Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, tính trái pháp luật theo quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành là hành vi làm trái với quy định của BLHS. Tội hành hạ người khác là một tội được quy định tại Điều 140, Chương XIV của BLHS năm 2015.
Do đó, một người thực hiện hành vi hành hạ thõa mãn 4 yêu tố cấu thành tội phạm tại Điều 140 thì hành vi đó là trái pháp luật. - Tính phải chịu hình phạt: Tính phải chịu hình phạt cũng là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không có tội phạm thì không có hình phạt. Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.
Tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự là cơ sở để cụ thể hóa tính phải chịu hình phạt, tính nguy hiểm cho xã hội càng lớn thì hình phạt càng cao. Cũng vì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bất cứ hành vi phạm tội nào cũng có thể bị đe dọa áp dụng hình phạt. Do đó, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội tỷ lệ thuận với mức độ khung hình phạt và hình phạt được coi là cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm. Như vậy, người phạm tội hành hạ người khác phải chịu hình phạt theo khung hình phạt được quy định tại Điều 140 BLHS.
Dấu hiệu pháp lý riêng Tội hành hạ người khác là một tội nằm trong BLHS, do đó, người phạm 11 tội ngoài việc thõa mãn các dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm thì còn phải có đầy đủ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng, đó là 4 yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Bốn yếu tố này có tầm ảnh hưởng khác nhau, nội dung biểu hiện của mỗi yếu tố cũng khác nhau, do đó mỗi hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Cho nên, cần nắm rõ được quy định cấu thành tội phạm sẽ giúp cho ta phân biệt được tội hành hạ người khác với những tội phạm khác trong BLHS. - Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Khách thể của tội phạm được hiểu là đối tượng bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam thì khách thể được phân thành khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. + Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được Luật hình sự bảo vệ. Khách thể chung của tội phạm là những quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
+ Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại. Khách thể loại có vai trò quan trọng về mặt lập pháp. Nó là cơ sở để BLHS xây dựng các chương trong phần các tội phạm.