chương 1 tác giả đã đưa ra khái niệm về tội đua xe trái phép, đồng thời phân tích những dặc điểm có tính đặc thù của tội đua xe trái phép. đó là đặc điểm về phương tiện đua xe, đặc điểm địa điểm, về số người phạm tội đua xe và đặc điểm tính nguy hiểm cao của hành vi đua xe. Bên cạnh đó tác giả đã nghiên cứu quá trình lập pháp về tội đua xe trái phép từ năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 2015. Qua nghiên cứu cho thấy, hành vi đua xe trái phép bắt đầu được quy định từ BLHS năm 1999.
Giai đoạn trước BLHS năm 1985 và trong khi ban hành BLHS năm 1985, Nha nước Việt Nam chưa quy định hành vi dua xe trái phép là tội phạm, do điều kiện thực tiễn những năm trước 1999 nên kinh tế Việt Nam chu yếu van là nền kinh tế bao cấp, phương tiện xe ô tô xe máy của cá nhân còn hạn chế và hành vi đua xe trái phép không có trên thực tế hoặc tuy có nhưng nhỏ lẻ hạn chế và có thé bị xét xử theo các tội gây rối trật tự công cộng hoặc xử phạt hành chính. Hành đua xe trái phép với các loại phương tiện đua có gắn động cơ bắt dau xảy ra nhiều sau những năm 1990 do một số đối tượng thanh thiếu niên đua đòi, học theo những được hành vi tiêu cực từ phim ảnh, từ mang Internet. Xuất phát từ tính nguy hiểm cao của hanh vi dua xe nơi công cộng, vì vậy, hành vi đua xe trái phép được quy định trong BLHS năm 1999 và tiếp tục được quy định trong BLHS năm 2015. 15 Chương 2: QUY ĐỊNH CUA BO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VE TOI DUA XE TRÁI PHÉP 2.
Các dấu hiệu cơ bản của tội đua xe trái phép BLHS năm 1999 là bộ luật đầu tiên được ban hành mà hành vi đua xe trái phép được quy định thành một tội danh riêng để xử lý độc lập. Hanh vi nay trong giai đoạn BLHS năm 1985 có hiệu lực được coi là tội gây rối trật tự công cộng (Điều 198 BLHS năm 1985). Song, do tính nguy hiểm cao của hành vi đua xe trái phép nhất là các loại xe có gắn động cơ, đua với tốc độ cao, ở khu vực đường giao thông có nhiều người tham gia, do vậy, BLHS năm 1999 đã quy định hành vi đua xe trái phép thành tội phạm độc lập (Điều 207 BLHS năm 1999) và đến BLHS năm 2015 tội đua xe trái phép đã được quy định rõ ràng và cụ thé hon tại Điều 266. Dưới góc độ khoa học pháp lý, các yếu tố cau thành tội phạm là những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng, điển hình cho loại tội phạm cụ thê được quy định trong luật hình sự.
Khách thể tội dua xe trái phép Hành vi đua xe trái phép xâm phạm đến khách thê là an toản công cộng trật tự công cộng cụ thé là an toàn giao thông đường bộ, qua đó làm ảnh hưởng đến an toàn trật tự xã hội, ảnh hưởng đến an toàn về tính mạng, sức khoẻ tai sản của Nhà nước, của công dan. Hành vi đua xe trái phép đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, được quy định trong Luật giao thông đường bộ năm 2008 tại Điều 8 cam dua xe, cô vũ dua xe trái phép. Mặt khách quan của tội dua xe trai phép Hanh vi khách quan của tội phạm nay là hành vi dua xe trái phép. Dua xe trai phép là sự ganh dua tốc độ của từ 02 bên trở lên trên đường bộ một cách 16 trái phép.
Người dua xe trái phép có thé thực hiện một trong các hành vi như: chuẩn bị, tập kết phương tiện đua (xe đua) và những điều kiện can thiết cho cuộc đua, đến nơi tập kết, tap trung đua, điều khiển xe tham gia cuộc đua. Các phương tiện phạm tội là các phương tiện tham gia giao thông đường bộ bao gồm: xe gắn máy, ô tô, các loại chuyên dùng, các loại xe khác có gắn động cơ. Dâu hiệu khách quan cấu thảnh tội đua xe trái phép là hành vi đua xe thé hiện: + Sứ dụng phương tiện chạy đua, ganh đua tốc độ của các xe tham gia đua như chạy quá tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, dé gây ra tai nạn giao thông. + Thường là người đua không có đủ bao hộ đúng theo quy chuẩn an toan.
+ Có hành vi hò hét gây náo loạn trên đường đua, tạo ra tiếng động gầm rú của xe máy, ô tô. + Có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tai sản của những người khác tham gia giao thông. Hành vi đua xe trái phép không chỉ gây nguy hiểm cho người khác mà còn gây nguy hiểm cho chính người đua xe. Tình trạng đua xe trái phép hiện nay đang xảy ra chú yếu ở các thành phô, đô thị va có thé ở một số khu vực vùng nông thôn.
Các trường hợp bị coi là tội phạm theo CTTP của tội đua xe trái phép theo quy định tại Điều 266 BLHS như sau: (1). Hành vi dua xe trái phép mà đã bị xử phạt hành chính vẻ hành vi đua xe hoặc hành vi tổ chức đua xe trái phép, lại tiếp tục có hành vi đua xe trái phép. Đây là trường hợp người đua xe trái phép hoặc tô chức đua xe trái phép (Điều 265 BLHS) đã bị xứ phạt hành chính về các hảnh vi này trong phạm vi một năm (từ khi bị xử phạt đến khi có hành vi đua xe trái phép) mà lại tiếp tục có hành vi đua xe trái phép thì bị coi là tội phạm. 17 Thời hạn được coi là chưa bị xử ly vi phạm hành chính (Luật xử ly vi phạm hành chính)" Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kế từ ngày chap hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kê từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Mức phạt hành chính được quy định xử phạt cụ thê tại Điều 34 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phat vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Theo đó, nội dung này được thê hiện như sau: Quy định xử lý vi phạm hành chính đổi với người dua xe trái phép, cô vũ dua xe trái phép: Đôi với một trong các hành vi vi phạm sau đây thì bị phạt tiền từ 1.000 đồng: - Tụ tập để cô vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép; - Đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép thì bị Phạt tiền từ 7. - Đối với người đua xe ô tô trái phép thì bị Phạt tiền từ 8. (2) Hành vi đua xe trái phép đã bị kết án về tội này hoặc tội tô chức đua xe trái phép theo quy định tại Điều 265 BLHS chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Việc xác định chưa được xoá án tích về tội đua xe trái phép hay tội tổ chức đua xe trái phép cần căn cứ vào các quy định tại Điều 70, 72,73 BLHS và tuỳ vào mức hình phat mà thời gian xoá án có thé là 1 năm, 2 năm, 3 năm hoặc 5 năm với các điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật. 1 Luật xử ly vi phạm hành chính năm 2012 18 (3) Hanh vi dua xe trái phép gây thương tích hoặc gây tôn hai cho sức khoẻ của 01 người mà ty lệ tổn thương cơ thể trên 31% trở lên. Hậu quả thương tích xảy ra do người đua xe vô y gây ra. (4) Hành vi đua xe trái phép đã gây thiệt hại vé tai san của người khác có giá trị từ 50.000 đồng trở lên.
Hậu quả thiệt hại về tai san cũng là hậu qua mà người phạm tội vô ý gây ra. (5) Hành vi đua xe trái phép gây hậu quả làm chết người (trường hợp này bị xử lý theo khoản 2 Điều 266 BLHS. Đây là trường hợp người đua xe vô ý gây ra hậu quả chết người và nội dung nảy cho thấy hậu quả nghiêm trọng hon rất nhiều theo các trường hợp (1) (2) (3) (4). Tác gia nhắn mạnh nội dung này trong CTTP co bản dé thấy rõ những dấu hiệu cấu thành tội dua xe trai phép.
tránh một nhận thức không đúng là không gây thương tích, không gây thiệt hại về tai sản thì không cấu thành tội phạm, trong khi hành vi phạm tội lại gây hậu quả chết người. Trường hợp đua xe trái phép mà không thuộc các trường hợp nêu trên thì không cầu thành tội dua xe trái phép, nhưng gây mat trật tự an ninh xã hội, an toàn công cộng, thì hành vi dua xe trái phép vẫn có thé bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS). Tội dua xe trái phép hoàn thành tội phạm tuy thuộc vào các trường hợp cụ thê theo luật định. Có thê chỉ có hành vi đua xe trái phép nếu người đó có dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mả chưa được xoá án về tội đua xe trái phép hoặc tổ chức dua xe trái phép.
Day 1a trường hợp tội dua xe trái phép có CTTP hình thức. Hoặc có hành vi đua xe trái phép và đã gây ra hậu quả chết người hoặc gây thương tích hoặc gây thiệt hại đến tai san của người khác theo luật định. Đây là trường hợp có CTTP vật chất. Chủ thể của tội dua xe trái phép Chủ thê của tội phạm nay là chủ thé bình thường.
Day là người không lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định, cụ thê: đối với người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự và tội dua xe trái phép theo các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 266 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; còn đối với người đủ 14 tuổi đến 16 tuổi phái chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội thuộc các khoản 2, 3, 4 Điều 266 của BLHS năm 2015. Đây là những tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, theo Điều 12 BLHS người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS.