Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, trách nhiệm phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm thực hiện quyền lực công và bảo vệ trật tự pháp luật. Về nguyên tắc chung, việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành khi có dấu hiệu tội phạm mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cá nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn có những hành vi phạm tội tuy xâm phạm trật tự công cộng nhưng đối tượng tác động trực tiếp lại là sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cá nhân và tính chất nguy hiểm cho xã hội ở mức độ không lớn. Trong các trường hợp này, việc xử lý hình sự bằng thủ tục thông thường có thể làm phát sinh thêm những tổn hại về tinh thần, bí mật đời tư hoặc quan hệ xã hội của chính người bị hại. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của nạn nhân, thể hiện tính nhân đạo và phù hợp với định hướng cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII cũng như văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Mặc dù chế định này đã có lịch sử hình thành qua các thời kỳ lập pháp (Điều 88 BLTTHS năm 1988, Điều 105 BLTTHS năm 2003 và Điều 155 BLTTHS năm 2015 sửa đổi năm 2021), song việc đánh giá thực tiễn thi hành một cách có hệ thống tại một địa bàn đô thị trọng điểm như quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội vẫn chưa được thực hiện chuyên sâu. Vì vậy, đề tài "Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội" được tác giả Đinh Đức Thanh thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn giải quyết các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại quận Hai Bà Trưng, chỉ ra những vướng mắc, nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục tiêu đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, từ đó chỉ ra những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các quy định liên quan (không yêu cầu khởi tố, hậu quả pháp lý của rút yêu cầu) và thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian được giới hạn tại địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thông qua các số liệu, tài liệu thực tế từ năm 2021 đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm. Về mặt học thuật, công trình kế thừa các khái niệm nền tảng trong khoa học luật tố tụng hình sự:
- Khái niệm "khởi tố vụ án hình sự" là giai đoạn mở đầu độc lập, tạo tiền đề và căn cứ pháp lý cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo nhằm xác định sự việc có hay không có dấu hiệu tội phạm.
- Khái niệm "bị hại" theo khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
- Khái niệm "khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại" là trường hợp đặc biệt, chỉ được tiến hành khi có yêu cầu hợp pháp của bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp khi bị hại dưới 18 tuổi, có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc đã chết) đối với các tội phạm xâm phạm thể chất, tinh thần, uy tín có mức độ nguy hại cho xã hội không cao.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở đối chiếu và phân tích bao gồm: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, cùng các điều ước quốc tế có liên quan như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học, bao gồm: phương pháp logic, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý. Nguồn dữ liệu sơ cấp phục vụ đánh giá thực tiễn được trích xuất từ Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát các năm 2021, 2022 và 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý và hệ thống hóa các quy định hiện hành về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại qua các nội dung trọng tâm:
- Đặc trưng và ý nghĩa của chế định: Việc khởi tố theo yêu cầu của bị hại mang tính chất đặc thù: chỉ thuộc quyền của bị hại/đại diện hợp pháp; phạm vi giới hạn trong một số tội danh nhất định; và ý chí của bị hại là điều kiện bắt buộc để ra quyết định khởi tố. Ý nghĩa của chế định thể hiện ở 3 khía cạnh: chính trị - xã hội (bảo vệ quyền công dân, củng cố niềm tin pháp luật); pháp lý (tạo tiền đề giải quyết vụ án theo thủ tục chặt chẽ); và nhân văn (bảo vệ bí mật đời tư, giảm thiểu tổn thương thứ cấp cho nạn nhân, khuyến khích hòa giải và giảm tải áp lực cho các cơ quan tư pháp).
- Phạm vi các tội phạm chỉ khởi tố khi có yêu cầu: Theo quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015, phạm vi này áp dụng với cấu thành cơ bản (khoản 1) của 09 tội danh trong BLHS năm 2015, gồm: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135); Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136); Tội vô ý gây thương tích (Điều 138); Tội vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp/hành chính (Điều 139); Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội cưỡng dâm (Điều 143); Tội làm nhục người khác (Điều 155); và Tội vu khống (Điều 156). Trong đó, có 07 tội thuộc loại ít nghiêm trọng và 02 tội thuộc loại nghiêm trọng (Điều 141 và Điều 143).
- Sửa đổi liên quan đến Hiệp định CPTPP: Khóa luận làm rõ việc Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS năm 2021 đã loại bỏ Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS) ra khỏi Điều 155 BLTTHS nhằm bảo đảm tính tương thích với điểm g khoản 6 Điều 18.77 Hiệp định CPTPP, cho phép cơ quan có thẩm quyền chủ động khởi tố hành vi xâm phạm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mà không cần bị hại yêu cầu.
- Quy định về giám định tư pháp: Bị hại có quyền lựa chọn yêu cầu hoặc không yêu cầu khởi tố nhưng không có quyền từ chối giám định thương tích. Điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng có thể dẫn giải bị hại nếu họ từ chối giám định mà không có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
- Chủ thể, hình thức và hậu quả pháp lý: Chủ thể gồm cá nhân bị hại và người đại diện theo pháp luật (cha mẹ, người giám hộ theo Điều 135 BLDS 2015). Hình thức yêu cầu thể hiện qua đơn hoặc biên bản tiếp nhận có chữ ký/điểm chỉ theo TTLT số 04/2018. Về hậu quả pháp lý:
- Khi có yêu cầu: Cơ quan có thẩm quyền mở giai đoạn điều tra; nếu Tòa án tuyên bị cáo không có tội thì bị hại phải chịu án phí theo khoản 3 Điều 136 BLTTHS.
- Khi không yêu cầu: Cơ quan tố tụng ra quyết định không khởi tố (khi hết thời hạn xác minh 4 tháng theo Điều 147), hủy quyết định khởi tố hoặc đình chỉ điều tra/vụ án theo Điều 158, Điều 230, Điều 248 BLTTHS.
- Khi rút yêu cầu: Vụ án phải được đình chỉ ở bất kỳ giai đoạn nào (Điều 155 khoản 2 và hướng dẫn tại Công văn 254/TANDTC-PC), trừ trường hợp bị ép buộc, cưỡng bức. Bị hại chỉ được rút yêu cầu một lần duy nhất và phải rút đối với toàn bộ vụ án, không được rút riêng cho từng bị can (nếu muốn giảm nhẹ cho từng bị can thì xem xét miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29 BLHS).
Chương 2. Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và một số kiến nghị
Chương 2 phản ánh tình hình an ninh trật tự, tổng hợp dữ liệu thực tế tại quận Hai Bà Trưng từ năm 2021 đến năm 2023, phân tích kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân:
- Tình hình tội phạm chung trên địa bàn:
- Năm 2021: Cơ quan CSĐT Công an quận Hai Bà Trưng khởi tố 394 vụ/524 bị can (gồm 31 loại tội thuộc 4 nhóm tội; tai nạn giao thông khởi tố 09 vụ/08 bị can).
- Năm 2022: Khởi tố 331 vụ/396 bị can (gồm 28 loại tội thuộc 4 nhóm tội; tai nạn giao thông khởi tố 05 vụ/05 bị can).
- Năm 2023: Tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tội phạm lừa đảo qua mạng; khởi tố 553 vụ/569 bị can (gồm 40 loại tội thuộc 4 nhóm tội, tăng 67% số vụ và 43,7% số bị can so với năm 2022).
- Thực tiễn áp dụng khởi tố theo yêu cầu của bị hại (2021 - 2023):
Tổng số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số vụ án hình sự được VKSND quận Hai Bà Trưng thụ lý kiểm sát điều tra:
| Năm |
Tổng số vụ án hình sự đã khởi tố thụ lý |
Số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại |
Tỷ lệ (%) |
| Năm 2021 |
507 |
32 |
6,31% |
| Năm 2022 |
502 |
25 |
4,98% |
| Năm 2023 |
617 |
26 |
4,21% |
| Tổng cộng |
1.626 |
83 |
5,10% |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát các năm 2021, 2022, 2023 của VKSND quận Hai Bà Trưng)
- Kết quả giải quyết vụ án qua từng năm: Tỷ lệ giải quyết các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại quận Hai Bà Trưng đạt 100% (gồm đình chỉ do rút yêu cầu và đưa ra xét xử):
- Năm 2021: VKSND quận Hai Bà Trưng thụ lý giải quyết 446 vụ/965 bị can. Đối với các tội danh theo Điều 155 BLTTHS, đình chỉ do rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa 03 vụ/03 bị can (chiếm 8,82%); đưa ra xét xử 56 vụ/60 bị can (chiếm 94,02% số giải quyết). Trong đó: Tội cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 134) có 34 vụ/45 bị can; Tội cưỡng dâm (khoản 1 Điều 143) có 15 vụ/16 bị can; Tội hiếp dâm (khoản 1 Điều 141) có 10 vụ/14 bị can.
- Năm 2022: Thụ lý giải quyết 357 vụ/747 bị can. Đình chỉ do bị hại rút yêu cầu trước phiên tòa 01 vụ/01 bị can (4%); đưa ra xét xử theo yêu cầu 24 vụ/30 bị can (96%).
- Năm 2023: Thụ lý giải quyết 527 vụ/846 bị can. Đình chỉ do rút yêu cầu 01 vụ/01 bị can (7,14%); đưa ra xét xử 13 vụ/15 bị can (92,86%). Cơ cấu tội phạm ghi nhận: Cố ý gây thương tích 21 vụ/25 bị can; Cưỡng dâm 07 vụ/07 bị can; Hiếp dâm 03 vụ/04 bị can. (Xét trên toàn bộ số liệu kiểm sát giải quyết năm 2023 là 617 vụ/935 bị can, đình chỉ do rút 01 vụ và đưa ra xét xử 61 vụ).
- Các tội danh không phát sinh: Trong cả 3 năm (2021 - 2023), trên địa bàn quận Hai Bà Trưng không phát sinh và không thụ lý vụ án nào thuộc 06 tội danh: Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156 BLHS.
- Những vướng mắc, tồn tại và bất cập pháp lý:
- Tỷ lệ khởi tố theo yêu cầu còn rất thấp: Toàn giai đoạn chỉ đạt 5,10% (83 vụ/1.626 vụ), phản ánh việc áp dụng chế định còn hạn chế.
- Bất cập khi có nhiều đồng bị hại nhưng ý chí không thống nhất: Luật chưa có quy định và hướng dẫn rõ ràng cho trường hợp một hành vi gây thiệt hại cho nhiều người mà chỉ có một số người yêu cầu khởi tố. Khóa luận dẫn chứng vụ việc thực tế ngày 06/3/2023: A gây thương tích cho B và C, mức thương tích của mỗi người dưới 11% nhưng tổng thương tích cả hai người từ 11% đến dưới 30% (thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS). B có đơn yêu cầu khởi tố, còn C từ chối yêu cầu do có quan hệ thân thích với A. Tác giả chỉ ra lỗ hổng: nếu không khởi tố thì không bảo đảm quyền lợi cho B; nếu khởi tố thì xâm phạm ý chí của C; còn nếu chỉ xem xét phần hành vi với B thì lại chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tác giả bảo vệ quan điểm cần khởi tố để răn đe hành vi coi thường sức khỏe người khác của A, đồng thời Tòa án có thể không triệu tập C nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan.
- Nguyên nhân từ quy định pháp luật: Số lượng tội danh khởi tố theo yêu cầu quá ít (09 trường hợp trên tổng số 320 cấu thành tội phạm trong BLHS). Ngược lại, khoản 1 Điều 134 BLHS vẫn giữ các tình tiết có tính nguy hiểm xã hội cao thuộc diện khởi tố theo yêu cầu (như dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm), trong khi một số tội phạm xâm phạm sở hữu ít nghiêm trọng lại chưa được trao quyền tự định đoạt cho bị hại.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả thực chứng: Khóa luận phản ánh toàn diện bức tranh thi hành Điều 155 BLTTHS tại quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2021 - 2023 với tổng số 83 vụ án được khởi tố theo yêu cầu bị hại trên tổng số 1.626 vụ án hình sự thụ lý (tỷ lệ trung bình 5,10%). 100% các vụ án đã thụ lý đều được giải quyết dứt điểm thông qua quyết định đình chỉ (khi bị hại tự nguyện rút yêu cầu) hoặc đưa ra xét xử nghiêm minh. Tội cố ý gây thương tích (Điều 134) chiếm đa số tuyệt đối, các tội phạm xâm phạm tình dục (Điều 141, 143) được đưa ra xét xử 100% không có trường hợp rút yêu cầu, và có 06/09 tội danh không phát sinh vụ án nào trong suốt 3 năm.
- Đề xuất và giải pháp:
- Hoàn thiện BLHS và BLTTHS: Rà soát lại các tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 134 BLHS để đưa các trường hợp có tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm ra khỏi diện khởi tố theo yêu cầu của bị hại; đồng thời nghiên cứu mở rộng quyền yêu cầu đối với một số tội danh xâm phạm sở hữu ít nghiêm trọng.
- Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất: Cần có văn bản giải thích và hướng dẫn cụ thể về cơ chế xử lý vụ án có nhiều bị hại nhưng ý chí mâu thuẫn nhau; phân định ranh giới rõ ràng giữa việc hủy quyết định khởi tố và việc đình chỉ điều tra.
- Chuẩn hóa biểu mẫu tố tụng: Đề xuất xây dựng mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tương tự như đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự nhằm giúp người dân thể hiện rõ ý chí truy cứu trách nhiệm hình sự, tránh nhầm lẫn với việc khiếu nại bồi thường thiệt hại đơn thuần.
- Nâng cao năng lực chuyên môn: Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và làm tốt công tác giải thích quyền, nghĩa vụ tố tụng cho người bị hại ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm.
- Đóng góp khoa học: Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên đánh giá có hệ thống thực tiễn thi hành quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội sau khi BLTTHS năm 2015 được sửa đổi năm 2021 theo chuẩn mực của Hiệp định CPTPP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Dữ liệu thực chứng của khóa luận chỉ giới hạn trong phạm vi không gian một quận nội thành (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) và khung thời gian 03 năm (2021 - 2023). Bên cạnh đó, do đặc thù tâm lý xã hội và cơ chế tự thỏa thuận giữa các bên, tác giả không thể thu thập được số liệu thống kê chính thức về các trường hợp có hành vi vi phạm nhưng bị hại không tố giác hoặc không nộp đơn yêu cầu khởi tố.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn thi hành Điều 155 BLTTHS giữa các địa bàn đô thị và nông thôn, hoặc liên tỉnh trên toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bảo vệ bị hại là người dưới 18 tuổi và các biện pháp bảo đảm bí mật đời tư trong các vụ án xâm phạm danh dự, nhân phẩm trên không gian mạng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận mạch lạc về bản chất pháp lý của việc khởi tố theo yêu cầu bị hại, phân tích sự thay đổi qua các thời kỳ lập pháp (1988, 2003, 2015 và sửa đổi 2021) và các án phí, chế tài kèm theo.
- Đối với cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư): Khóa luận cung cấp các phân tích tình huống thực tế có giá trị cao, điển hình là việc áp dụng Công văn 254/TANDTC-PC về thời điểm rút đơn yêu cầu ở các giai đoạn tố tụng và phương án xử lý tình huống xung đột ý chí trong vụ án có nhiều đồng bị hại.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS năm 2021 lại bãi bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS)?
Việc bãi bỏ nội dung dẫn chiếu đến Điều 226 BLHS tại Điều 155 BLTTHS nhằm bảo đảm sự tương thích với cam kết quốc tế tại điểm g khoản 6 Điều 18.77 của Hiệp định CPTPP. Quy định này cho phép cơ quan tiến hành tố tụng chủ động khởi tố các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mà không cần phải có yêu cầu của bị hại.
2. Bị hại trong các vụ án thuộc diện Điều 155 BLTTHS có quyền từ chối giám định thương tích không?
Bị hại có quyền tự do lựa chọn yêu cầu hoặc không yêu cầu khởi tố vụ án, nhưng không được quyền từ chối giám định thương tích. Theo điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015, nếu người bị hại từ chối giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải.
3. Trong vụ án có nhiều bị can, bị hại có được rút yêu cầu khởi tố đối với một bị can riêng biệt không?
Không. Bị hại chỉ có quyền rút yêu cầu khởi tố đối với toàn bộ vụ án chứ không có quyền rút riêng cho từng bị can, bị cáo. Nếu bị hại và một bị can tự nguyện hòa giải và bồi thường, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ hướng dẫn bị hại làm đơn đề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị can đó theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015.
4. Tỷ lệ các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại quận Hai Bà Trưng trong giai đoạn 2021 - 2023 chiếm bao nhiêu phần trăm?
Trong giai đoạn 2021 - 2023, VKSND quận Hai Bà Trưng đã thụ lý kiểm sát khởi tố tổng cộng 1.626 vụ án hình sự, trong đó số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại là 83 vụ, chiếm tỷ lệ trung bình là 5,10% (năm 2021 đạt 6,31%; năm 2022 đạt 4,98%; năm 2023 đạt 4,21%).
5. Vướng mắc thực tiễn lớn nhất trong vụ án có nhiều người bị hại nhưng ý chí yêu cầu khởi tố không thống nhất là gì?
Vướng mắc nảy sinh khi một người gây thương tích cho nhiều người với tỷ lệ mỗi người dưới 11% nhưng tổng thương tích từ 11% đến dưới 30% (như vụ án ngày 06/3/2023 tại Hai Bà Trưng), trong đó chỉ có một bị hại yêu cầu khởi tố còn bị hại kia từ chối do quan hệ thân thích. Nếu không khởi tố sẽ không bảo vệ được người yêu cầu, nếu khởi tố thì trái ý chí người không yêu cầu, còn nếu tách riêng từng hành vi thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Đức Thanh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2021) về chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Thông qua nguồn số liệu thực chứng giai đoạn 2021 - 2023 tại quận Hai Bà Trưng, công trình đã làm rõ hiệu quả giải quyết đạt 100% của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời chỉ ra những bất cập nổi cộm trong việc giải quyết xung đột ý chí giữa nhiều bị hại và phân loại tội danh. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực tiễn được đề xuất có tính thuyết phục, góp phần nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật tố tụng hình sự và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn hiện nay.