Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội giết người 1. Khái niệm tội giết người Hiện nay, các nước trên thế giới có hai xu hướng để đưa ra về tội giết người. Một là, định nghĩa tội giết người và không định nghĩa tội giết người.
Các nước theo xu hướng định nghĩa về tội giết người trong BLHS của mình nhưng mỗi nước lại có các cách định nghĩa khác nhau. Luật Hình sự Liên bang Nga năm 1966, tại Điều 106, tội giết người được định nghĩa: “… là cố ý làm chết người khác” [11; tr. 78]; Trong BLHS Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác” [53; tr. 43]; Bộ luật Bang California (Hoa Kỳ) năm 1998 tại Điều 187 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp pháp” [54, tr.
Một số nước theo xu hướng thứ hai, không định nghĩa tội giết người, nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Trong đó có các định nghĩa: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác” [39; tr. 327], hoặc “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước đoạt quyền sống của người khác” [51; tr. Hoặc “Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật” [33; tr.
Phân tích, đánh giá các định nghĩa trên cho thấy về nội dung, các định nghĩa không đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể hoặc có đề cập đến trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến độ tuổi. Về sử dụng thuật ngữ giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính 7 mạng” của người khác là chưa phù hợp, chính xác theo ý nghĩa từ ngữ trong tiếng Việt. Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng “tước đoạt” là “tước và chiếm lấy sự sống của người khác” và “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng” [6, tr. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 8, Khái niệm Tội phạm thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự thực hiện bởi người có năng lực trách hình sự thực hiện một cách cố ý, hoặc vô ý… xâm phạm tính mạng… của công dân…” [14].
Trên cơ sở phân tích các định nghĩa trên về tội giết người, tác giả đưa ra khái niệm về tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi theo quy định của pháp luật. Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người 1. Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là một thành phần không thể thiếu trong bất kỳ một tội phạm nào. Đó là quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội.
Việc xem xét khách thể của tội phạm có ý nghĩa rất lớn trong quá trình định tội danh. Việc xác định đúng khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp của xâm hại là giai đoạn cần thiết, đầu tiên trong định tội danh. Khách thể của tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người. Tội Giết người xâm phạm quyền sống của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - con người đang sống.
Việc xác định đối tượng tác động của tội Giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi vì, nếu hành vi nào đó tác động vào 8 đối tượng không phải hay chưa phải là con người hoặc là con người những đã chết thì những hành vi đó không xâm phạm đến quyền sống của con người nên không phải là tội Giết người. Thực tiễn xét xử tội Giết người ở Việt Nam xác định thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm đứa trẻ đã được sinh ra khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội. Thời điểm kết thúc sự sống của con người là thời điểm chết sinh vật, bởi vì đây là giai đoạn cuối cùng của sự chết. Ở giai đoạn này, sự sống của con người không có khả năng hồi phục.
Khách thể của tội giết người trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người. Đối tượng tác động của tội phạm này là con người đang sống, đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội. Mặt khách quan của tội Giết người Mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở hành vi tước bỏ quyền sống của người khác một cách trái pháp luật bằng những thủ đoạn và phương tiện khác nhau gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Về cơ bản, mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở các dấu hiệu, hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng con người bằng mọi hình thức và gây hậu quả là gây ra cái chết.
Ví dụ, Bản án số: 138/2017/HSST. Trong lúc đánh nhau, Ân nhìn thấy cây tầm vông dưới dất, liền nhặt lên định đánh Ngọc, thì bị chị Huỳnh Thị Mỹ Xuyên (em của Ngọc) xông lên giật lấy và giằng co với Ân. Thấy Xuyên té ngã và Ân giơ cây tầm vông định đánh Ngọc, Huỳnh Văn Lượng (cha của Ngọc) liền chạy vào giật lấy cây tầm vông từ tay Ân, đánh Ân trúng vào đầu khiến Ân bỏ chạy về phòng trọ. Lúc này, Tuấn cầm cây (chưa xác định đặc điểm) đánh vào lưng Lượng, liền bị Lượng quay lại dùng cây tầm vông đánh vào đầu ngã xuống bất tỉnh.
Ngọc thấy không bị ai đánh 9 nên đứng dậy bỏ chạy. Lượng ném cây tầm vông rồi về phòng trọ. Ngọc chạy về phòng trọ của Đức, số C3/16, ấp 3, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, nhờ Dức chở ra bến xe về Trà Vinh trốn. Ân, Phong, Cảnh đưa Vũ Trí Tuấn đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy, đến khoảng 12 giờ ngày 16/11/2015, Tuấn tử vong.
Ở đây, mặt khách quan của của tội giết người được thể hiện ở các dấu hiệu, bị cáo Lượng có hành vi dùng cây tầm vông đánh vào đầu (tước đoạt trái pháp luật tính mạng con người bằng mọi hình thức) và gây hậu quả là Vũ Trí Tuấn bị chán thương sọ não gây ra cái chết. Hành vi khách quan của tội phạm, là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác. Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Hành vi này có thể là hành động phạm tội như hành vi đâm chém, bắn… nhưng cũng có thể là không hành động phạm tội như hành vi của người mẹ không cho con bú dẫn đến đứa trẻ chết.
Hành vi tước đoạt tính mạng chỉ được coi là hành vi khách quan của tội Giết người nếu hành vi đó phải là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác. Ví dụ, trong bản án Bản án số: 402/2016/HSST, Ngày: 05/12/2016. Của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phạm Công Ninh có hành vi dùng dao đâm chết Nguyễn Nhật Hoàng nhằm giải quyết mâu thuẫn nhỏ của bị cáo Phạm Công Ninh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự. Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội Giết người.
Những hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội Giết người (Ví dụ: trường hợp thi hành án tử hình…). Trong thực tiễn xét xử còn gặp những trường hợp tước đoạt tính mạng 10 người khác do được sự đồng ý của nạn nhân. Động cơ của những hành vi này có thể khác nhau, trong đó có những động cơ mang tính nhân đạo (Ví dụ: Hành vi tước đoạt tính mạng của người bị bệnh hiểm nghèo nhằm tránh đau khổ kéo dài cho họ). Tuy nhiên, theo Luật hình sự Việt Nam, những trường hợp này vẫn bị coi là trái pháp luật.
Hậu quả của tội phạm, là nạn nhân phải chết, đây là dấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội phạm của tội Giết người. Như vậy, Tội Giết người chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra. Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là tội Giết người chưa đạt hoặc tội Cố ý gây thương tích tùy theo lỗi của người phạm tội trong từng trường hợp cụ thể. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người.
Người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người nếu hành vi tước đoạt trái phép tính mạng người khác mà họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người, hay nói cách khác là giữa hành vi khách quan của tội Giết người với hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với nhau. Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật được coi là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người nếu thỏa mãn 3 điều kiện: Thứ nhất, hành vi khách quan phải xảy ra trước hậu quả chết người về mặt thời gian. Thứ hai, hành vi khách quan phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người. Thứ ba, hậu quả chết người đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan của tội Giết người.
Chủ thể của tội giết người Chủ thể của tội phạm giết người là người có năng lực trách nhiệm hình 11 sự và đạt độ tuổi do pháp luật quy định. Chủ thể của tội phạm là người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Người đó phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự tức là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội và nhận thức, điều khiển hành vi, và đạt độ tuổi theo quy định chịu trách nhiệm hình sự của BLHS.