mở đầu là Công ước 1912 về vệ sinh quốc tế (The International Sanitary Convention 1912) hay Công ước Gionevo 1907 vé chién tranh trén bién (1907 Geneva Convention on Maritime Warfare). Nam 1920, Hoa Ky khi phê chuẩn Công ước 1912 về vệ sinh quốc tế đã tuyên bố bảo lưu đối với Điều 9 Công ước. Năm 1909, Trung Quốc khi phê chuẩn Công ước Giơnevơ 1907 về chiến tranh trên biển đã bảo lưu Điều 21 Công ước. ` Trên thực tế, tắt cả các bên ký kết đã chấp nhận một cách ngầm định việc bảo lưu trước khi nó có thé được coi là hợp lệ.
Mặc dù thực tiễn đã xuất hiện một số tiền lệ về bảo lưu như vậy, tuy nhiên, sau khi kết thúc Chiến tranh thé giới lần thứ nhất và Hội quốc liên được thành lập, các quốc gia * Paul Reuter, Introduction to the law of treaties 78, Continuum International Publishing Group, 1995.gov/law/help/us-treaties/bevans/m-ust000001- 0814.pdf > https://ihidatabases.org/applic/ihl/ihl.xsp? documentld=565717A61A5309C6C12563FD00560FA5&action= OpenDocument 8 dau châu Âu đã quyết định vẫn giữ nguyên ý tưởng, về việc tôn trọng Học thuyết nhất trí hoàn toàn (Unanimity Doctrine) trong việc ký kết điều ước quốc tế, theo đó, dé cao sự nhất trí của toàn bộ các bên tham gia ký kết và không khuyến khích các thành viên đưa ra bảo lưu dưới bat kỳ hình thức nào. Tình hình này tiếp tục tiếp diễn cho đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Giai đoạn từ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai - Học thuyết Liên Mỹ (Pan-American Doctrine) Trong khi các quốc gia ở Châu Âu vẫn một mực theo đuổi Học thuyết nhất trí hoàn toàn, một cách tiếp cận khác đã phát triển ở các nước Mỹ la tỉnh, thường được gọi là Học thuyết Liên Mỹ. Học thuyết Liên Mỹ đã mở rộng khả năng tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương bằng cách cho phép các quốc gia thành viên bảo lưu một số quy định của điều ước quốc tế.
Học thuyết này thừa nhận 4 cấp độ của quyền và nghĩa vụ qua lại giữa các quốc gia kết ước, đó - Giữa các quốc gia không đưa ra bảo lưu thì điều ước quốc tế sẽ được áp dụng như nó đã được thông qua; - Giữa quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia đã chấp nhậm bảo lưu, điều ước được áp dụng theo cách thức mà bao lưu đưa ra; ~ Giữa quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia phân đối bảo lưu, điều ước sẽ không có hiệu lực giữa các quốc gia đó; ` Oliver Döïr and Kirsten Schmalenbach, Vienna Convention on the Law off [reaties: A Commentary, Springer - Verlag Berlin Heidelberg, 2012, p. - Giữa quốc gia gia nhập điều ước đồng thời đính kèm bảo lưu, điều ước sẽ không có hiệu lực giữa quốc gia đó và các quốc gia kết ước khác đã không chấp nhận bảo lưu. Tinh thần của Học thuyết Liên Mỹ được thể hiện trong Công ước Havana năm 1928 về điều ước quốc tế. Có thé thấy rằng, Học thuyết Liên Mỹ đã mở rộng khả năng tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương bằng cách cho phép các quốc gia thành viên bảo lưu một số quy định của điều ước quốc tế.
Trong một thời gian dai, hai cách tiếp cận khác nhau về vấn dé bảo lưu điều ước đã cùng tổn tại và tác động rất nhiều đến quá trình ký kết điều ước q giữa các quốc gia. Nghiên cứu thực tiễn bảo lưu điều ước thời kỳ trước Chiến tranh thé giới thứ II cho thay, bat kể luật quốc tế đã có sự phát triển khi tiêu chuẩn hóa các điều khoản chính thức của điều ước quốc tế đa phương, nhưng các quan điểm về bảo lưu điều ước vẫn có xu hướng khác nhau giữa các quốc gia và giữa các khu vực trên thé giới. Giai đoạn từ Chiến tranh thé giới lần thứ hai đến trước năm 1969 Trong giai đoạn này, sự hình thành và phát triển của chế định bảo lưu có liên hệ mật thiết với các dấu mốc trong thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế - ICJ và Uy ban Luật pháp quốc tế - ILC. Sau những hậu quả kinh ` Công ước Havana năm 1928 về điều ước quốc tế.4/23 Report on the Law of Treaties by J.
Brierly, Special Rapporteur, page 244, http://legal.org/ilc/documentation/english/a_cn4_23.pdf 10 hoàng từ sự kiện Holocaust', các thành viên của Liên hop quốc đã dam phán dé cho ra đời Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948. Mặc dù Công ước này được mong chờ là một trong những trụ cột pho quát của nhân loại trong cuộc chiến chống lại tội diệt chủng. Tuy nhiên, các quốc gia khi tham gia lại tiến hành đưa ra các bảo lưu đối với văn kiện này. Vào thời điểm đó, Liên hợp quốc thực sự lâm vào thé tién thoái lưỡng nan khi vừa ra.
Trước tình hình như vậy, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã kêu gọi ICJ và ILC đưa ra ý kiến tư van cũng như các hướng dẫn cụ thể về van dé này. Điều đầu tiên, quan điểm của ICJ khẳng định rằng, các điều ước quốc tế về quyền con| người lả hoàn toàn đặcthù | so với các loại điều ước quốc tế khác. Điều ước quốc tế về quyền con người không thiết lập mối quan hệ qua lại về quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia mà đặt ra nghĩa vụ đối với chính các quốc gia thành viên nhằm bảo vệ quyền con người thông qua các chuẩn mực quốc tế được quy định trong điều ước. Hay nói một cách khác, cá nhân chính là chủ thê được thụ hưởng quyên và lợi ích từ các quy định của những điều ước quốc tế về quyển con người.
Do đó, * Holocaust là thuật ngữ chỉ cuộc diệt chủng do Đức quốc xã tiến hành và nó đã dẫn tới cái chết của khoảng 6 triệu người Do Thái. Một số nhà sử học còn sử dụng định nghĩa Holocaust theo nghĩa rộng khi bao gồm cả 5 triệu nạn nhân không phải người Do Thái thiệt mạng vì các cuộc thảm sát này của Đức quốc xã, qua đó đưa tổng số nạn nhân lên khoảng 11 triệu người. Hoạt động tàn sát diễn ra trên toàn bộ lãnh thổ nước Đức và các vùng lãnh thổ bị quốc gia này chiếm đóng. 11 việc đưa ra bảo lưu đối với các văn kiện này sẽ ảnh hưởng tới quyền của cá nhân tại chính quốc gia đưa ra bảo lưu ma không ảnh hưởng tới quốc gia khác.
Kết quả là, các quốc gia không nên và không thể có quyền trong việc đưa ra tuyên bố bảo lưu đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Mặc dù đôi lúc chính bản thân Tòa án Công lý quốc tế cũng thay ] khó khăn khi phải giải quyết mâu thuẫn giữa sự mong muốn tham gia đông đảo của các quốc gia và sự cần thiết phải có một quy phạm pháp luật quốc tế cứng rắn trong việc chống lại nạn diệt chủng mà theo như Tòa đã nhận định, nạn diệt chủng thực sự là cú sốc đối với lương tri của nhân loại. Cuối cùng, Tòa nhận thấy rằng, bat kỳ bảo lưu nào khi đưa ra, trước tiên phải phù hợp với đối tượng và mục đích của Công ước. Cùng với đó, Tòa cũng bác bỏ học thuyết chủ quyền cho phép quốc gia có thể đưa ra bất kỳ bảo lưu nào mà họ mong muốn.” Điều này có nghĩa là ICJ đã thừa nhận sự cần thiết của bảo lưu nhưng, cổ gắng hạn chế phạm vi của nó bằng cách yêu cầu các bảo.
lưu phải phủ hợp với đối tượng và mục đích của điều ước. Tuy nhiên, ICJ lại chưa chi ra được hệ quả pháp lý của một bảo lưu được xác định là không phù hợp với đối tượng và mục đích củ: điều ước quốc tế. Mặc dù vậy, ý kiến của ICJ về bảo lưu đối với Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội diệt chủng cũng đã cung cấp một bộ tiêu chuẩn có tính tai phán đề đánh giá các bảo lưu điều ước quốc tế. Korkelia, New Challenges to the Regime of Reservations Under the international Covenant on Civil and Political Rights, European Journal of international Law, 2002, p.
Reservations to Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide, Advisory Opinion 28/5/1951: |. 12 này đã trở thành một phần quan trọng liên quan đến các trường hợp hạn chế bảo lưu của Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế giữa các quốc gia (sau đây gọi là Công ước Viên năm 1969). Cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề này của Toà có thể được tìm thấy trong cách tiếp cận của Công ước Viên năm 1969) trong những năm về sau. Và trên thực tế, Tòa đã không nghiêng về bat kỳ một bên học thuyết nào, cho dù là Học thuyết nhất trí hoàn toàn của các quốc gia châu Âu hay Học thuyết Liên Mỹ của các quốc gia châu Mỹ Latinh.
Tòa cho rằng, vấn đề bảo lưu chỉ có thể được giải quyết một cách thỏa đáng khi xem xét nó trong từng trường hợp cụ thé. Và đây có lẽ là một cách tiếp cận thận trọng và khôn ngoan nhất - điều đã được thể hiện tai Điều 21 của Công ước Viên năm 1969 về sau này. Củng vào thời điểm đó, bên cạnh việc hỏi ý kiến tư vấn của ICJ, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng mong muốn nhận được sự hướng dẫn của ILC trong Nghị quyết số 478 (V) ngày 16/11/1950!. Trên thực tế, ILC thậm chí còn di đến một kết luận có chiều hướng ngược lại so với ý kiến tư vấn của ICJ thông qua việc ủng hộ cho mô hình cổ điển của các quốc gia châu Âu với Học thuyết nhất trí hoàn toàn.
Điều này một lần nữa lại đẩy Dai hội đồng Liên hợp quốc vào tình thế hoặc phải lựa chọn một trong hai khuyến nghị hoặc là phải dung hòa cả hai ý kiến của ICJ và ILC. Trước tình hình đó, Đại hội đồng đã thông qua Nghị quyết số 598 (VI) ngày 12/1/1952 để né tránh tình thế phải lựa ° Resolution 478 (V) of 16 November 1950 on Reservations to Multilateral Conventions. Nguồn http://www.org/documents/ga/res/S/ares5.htm 13 chọn một trong hai khuyến nghị. Nghị quyết này đã cho phép Tổng thư ký là cơ quan lưu trữ các bảo lưu của các quốc gia và Tổng thư ký có quyền thông báo cho các quốc gia thành viên về bắt kỳ bảo lưu nào đối với điều ước quốc tế cũng như cho phép họ TÚI ra bat ky kết luận pháp|ý nao từ tuyên bố bảo lưu của quốc gia.
Ì Giải pháp tinh thé nay của Dai hội đồng kéo dai cho đến năm 1959 khi An Độ yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của một bảo lưu đã được đính kèm vào Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948.