mở đầu là Công ước năm 1912 về vệ sinh quốc tế” hay Công ước Giơnevơ năm 1907 về chiến tranh trên biển. Giai đoạn từ Chiến tranh thé giới lan thứ nhất đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai - Học thuyết Liên Mỹ (Pan-American Doctrine) ' Paul Reuter, Introduction to the law of treaties 78, Continuum International Publishing Group, 1995.gov/law/help/us-treaties/bevans/m-ust000001-0814.pdf *https://ihldatabases.org/applic/ihl/ihl.xsp?documentId=565717A61A5309C6C12563FD005 60FAS&action=OpenDocument 12 Trong khi các quốc gia ở Châu Âu vẫn một mực theo đuôi Học thuyết nhất trí hoàn toàn, một cách tiếp cận khác đã phát triển ở các nước Mỹ la tinh, thường được gọi là Học thuyết Liên Mỹ. Học thuyết Liên Mỹ đã mở rộng khả năng tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương bằng cách cho phép các quốc gia thành viên bảo lưu một số quy định của điều ước quốc tế. Học thuyết này thừa nhận 4 cấp độ của quyên và nghĩa vụ qua lại giữa các quốc gia kết ước, đó là: (i) giữa các quốc gia không đưa ra bảo lưu thì điều ước quốc tế sẽ được áp dụng như nó đã được thông qua; (ii) giữa quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia đã chấp nhận bảo lưu, điều ước được áp dụng theo cách thức mà bảo lưu đưa ra; (iii) giữa quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu, điều ước sẽ không có hiệu lực giữa các quốc gia đó; (iv) giữa quốc gia gia nhập điều ước đồng thời đính kèm bảo lưu, điều ước sẽ không có hiệu lực giữa quốc gia đó và các quốc gia kết ước khác đã không chấp nhận bao lưu.” Trong một thời gian dài, hai cách tiếp cận khác nhau về đề bảo lưu điều ước đã cùng ton tại và tác động rất nhiều đến quá trình ký kết điều ước quốc tế giữa các quốc gia.
Nghiên cứu thực tiễn bảo lưu điều ước thời kỳ trước Chiến tranh thé giới thứ II cho thay, bất kê luật quốc tế đã có sự phát triển khi tiêu chuẩn hóa các điều khoản chính thức của điều ước quốc tế đa phương, nhưng các quan điểm về bảo lưu điều ước vẫn có xu hướng khác nhau giữa các quốc gia và giữa các khu vực trên thế giới. Giai đoạn từ Chiến tranh thé giới lan thứ hai đến trước năm 1969 Trong giai đoạn này, sự hình thành và phát triển của chế định bảo lưu có liên hệ mật thiết với các dâu mốc trong thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) và Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC). Năm 1948, các thành viên của Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng. Mặc dù Công ước này được mong chờ là một trong những trụ cột phổ quát của nhân loại trong cuộc chiến chống lại tội ác diệt chủng.
Tuy nhiên, các quốc gia khi tham gia lại đưa ra các bảo lưu đối với văn kiện này. Liên hợp quốc thực sự lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan khi vừa phải cần tới đủ số lượng thành viên dé Công ước có hiệu lực, vừa phải đối mặt với các bảo lưu mà các quốc gia đưa ra. Trước tình hình như vậy, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã yêu cầu ICJ và ILC đưa ra ý kiến tư vẫn về vẫn đề này: * Tinh thần của Học thuyết Liên Mỹ thể hiện rõ tại Điều 6 Công ước Havana về Luật điều ước năm 1928 13 - ICJ đã nêu ra tiêu chuẩn về “đối tượng và mục đích” như là một phương pháp dé đánh giá các bảo lưu đối với điều ước đa phương. Điều này có nghĩa là ICJ đã thừa nhận sự cần thiết của bảo lưu nhưng cố gắng hạn chế phạm vi của nó băng cách yêu cau các bảo lưu phải phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước.
- ILC lại ung hộ cách tiếp cận nhất trí có tính truyền thống ở Châu Âu và kêu gọi Liên hợp quốc thông báo tới tất cả các quốc gia thành viên của Công ước: Nếu có bất cứ quốc gia nào phản đối bảo lưu trong một khoảng thời gian nhất định thì bảo lưu sẽ phải được rút lại, hoặc quốc gia đưa ra bảo lưu sẽ không thể trở thành thành viên của Công ước. Điều này một lần nữa lại đây Liên hợp quốc vào tình thế khó xử. Ngày 12 tháng 1 năm 1952, Dai hội đồng đã thông qua Nghị quyết số 598 (VI) để né tránh việc phải lựa chọn một trong hai ý kiến. Nghị quyết này cho phép Tổng thư ký Liên hợp quốc có quyên thông báo cho các quốc gia thành viên về bat kỳ bảo lưu nào đối với điều ước quốc tế cũng như cho phép họ rút ra bất kỳ kết luận pháp lý nào từ tuyên bố bảo lưu của quốc gia.” Giải pháp tình thé này của Đại hội đồng kéo dài cho đến năm 1959 khi Ấn Độ đã yêu cầu làm rõ giá trị pháp lý của một bảo lưu đã được đưa ra đối với Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948.
Đến thời điểm này, Đại hội đồng bắt buộc phải có một lập trường rõ ràng hơn về van dé bảo lưu. Đại hội đồng đã kêu gọi Tổng thư ký thu thập các thông tin và thực tiễn liên quan đến vấn đề bảo lưu từ các khu vực trên thé giới và đệ trình những kết quả tìm được cho ILC dé tiến hành xem xét thêm. Bằng cách này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đưa ra tín hiệu đầu tiên rằng, học thuyết nhất trí hoàn toàn là một học thuyết của quá khứ và nó có tính chính trị hơn là pháp lý, cho nên những cân nhắc, xem xét sẽ được đưa ra để điều chỉnh các van dé về bảo lưu. Ba năm sau, nhóm báo cáo viên bao gồm các chuyên gia đã trình lên ILC các quan điểm mới của họ về van đề bảo lưu điều ước - những ý tưởng mà sau 6 năm đã trở thành các điều từ Điều 19 đến Điều 23 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia (sau đây gọi là Công ước Viên năm 1969).
Giai đoạn từ năm 1969 đến nay > Resolution 598 (VI) of 12 January 1952 on Reservations to Multilateral Conventions. Nguồn http://www.org/documents/ga/res/6/ares6.htm 14 Quan điểm của ICJ cùng với rất nhiều năm nghiên cứu, phân tích, tranh luận giữa ILC và Đại hội đồng Liên hợp quốc đã trở thành nên tảng cho sự ra đời của Công ước Viên năm 1969, tiếp sau đó là Công ước Viên năm 1978 về kế thừa của quốc gia đối với các điều ước quốc tế (sau đây gọi là Công ước Viên năm 1978) và Công ước Viên năm 1986 về luật điều ước giữa quốc gia với tổ chức quốc tế hoặc giữa các tô chức quốc tế (sau đây gọi là Công ước Viên năm 1986). Đáng lưu ý là, hiện nay Công ước Viên năm 1986 chưa có hiệu lực nhưng các quy định về bảo lưu trong Công ước hoàn toàn giống với Công ước Viên năm 1969; ngoài ra, các bảo lưu liên quan đến kế thừa điều ước quốc tế trong Công ước Viên năm 1978 cũng có sự dẫn chiếu trở lại một số quy định trong Công ước Viên năm 1969. Bên cạnh đó, Công ước Viên năm 1969 đã được thừa nhận là sự pháp điển hóa luật tập quán quốc tế điều chỉnh các van đề về bảo lưu điều Lẻ Ước.
Việc bảo lưu được ghi nhận trong Công ước Viên năm 1969 đã đánh dấu kết qua hoạt động thực tiễn của ICJ và ILC, đồng thời khang định sự phát triển của chế định bảo lưu trong luật điều ước quốc tế. Tuy nhiên, do thực tiễn ngày càng nhiều các quốc gia đưa ra bảo lưu khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế nên năm 1993, ILC đã quyết định bố sung van dé bảo lưu điều ước vào trong lịch trình nhằm chuẩn bị Dự thảo Công ước của Liên hợp quốc về bảo lưu đối với các điều ước quốc tế. Dự thảo hiện nay của ILC đã đề xuất các quy định mới về bảo lưu, trong đó: phân biệt bảo lưu với các tuyên bố gắn liền với điều ước quốc tế; thừa nhận bảo lưu có thé đưa ra khi quốc gia thông báo kế thừa điều ước quốc tế; bảo lưu có thể loại trừ việc áp dụng điều ước quốc tế hoặc một số điều khoản của điều ước quốc tế đối với một phạm vi lãnh thổ cụ thể của quốc gia; bảo lưu có thể đưa ra bằng một tuyên bố chung của nhiều bên.” Những van đề mới được nêu ra trong các văn bản của ILC cũng đã cho thay hướng phát triển, hoàn thiện của chế định bảo lưu điều ước quốc tế trong thời gian tới. Định nghĩa và đặc điểm của bảo lưu điều ước quốc tế Theo cách tiếp cận của Công ước Viên năm 1969, bảo lưu điều ước quốc tế là một tuyên bố don phương của một quốc gia, bat kế cách viết hay tên gọi như thé nào, dua ra khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập diéu ° http://legal.org/ile/documentation/english/a_cn4_558.pdf 15 ước quốc té, qua do nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số điều khoản của diéu ước trong việc áp dụng đối với quốc gia do.’ Các định nghĩa tương tự cũng được ghi nhận trong Công ước Viên năm 1978 và Công ước Viên năm 1986.
Căn cứ vào định nghĩa bảo lưu được ghi nhận trong các công ước Viên năm 1969, năm 1978 và năm 1986 cũng như thực tiễn thực hiện bảo lưu trong quan hệ quôc tê, có thê thây bảo lưu có một sô đặc trưng cơ bản như sau: a. Hình thức của bảo lưu điều ớc quốc tê Bảo lưu trước tiên là một tuyên bố đơn phương bên ngoài các điều khoản của văn kiện điều ước và được tạo ra bởi chính thành viên điều ước. Tuyên bố đơn phương nay là bước đầu tiên trong quy trình tiến hành bảo lưu với tư cách như một thủ tục pháp lý một chiều nhưng có thể dẫn tới những hệ quả pháp lý đa chiêu liên quan về sau. Mặc dù khẳng định tính đơn phương của tuyên bố bảo lưu nhưng trong Hướng dẫn thực hành về bảo lưu điều ước quốc tế được Ủy ban Luật quốc tế Liên hợp quốc thông qua tại kỳ họp thứ 63 của Ủy ban vào năm 2011 (sau đây gọi tắt là Hướng dẫn thực hành của ILC”) lại đề cập đến khả năng xây dựng chung bảo lưu của một số quốc gia và tổ chức quốc tế.
Uy ban cho rang: “Việc xây dựng chung một bảo lưu của một số quốc gia hoặc các tô chức quốc tế không ảnh hưởng đến tính đơn phương của bảo lưu đó”. Quan điểm này đã có sự phát triển hon so với Công ước Viên năm 1969 và Công ước Viên năm 1986.