mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tại Điều 61 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định chế độ cai nghiện bắt buộc và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan lập pháp và áp dụng pháp luật cũng như các cơ quan hữu quan khác phối hợp đấu tranh có hiệu quả với tội phạm về ma túy và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về kiểm soát, phòng chống ma tuý (tệ nạn ma tuý và tội phạm về ma tuý).
Để triển khai thực hiện Hiến pháp năm 1992 ngày 29/01/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/CP về tăng cường chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy. Cùng với đó, ngày 05/12/1992, TANDTC, VKSNDTC, Bộ nội vụ cũng ra Thông tư liên ngành số 07/TTLN hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985 nhằm cụ thể hoá Điều 61 Hiến pháp năm 1992. Trong Thông tư này, lần đầu tiên các cơ quan có thẩm quyền đã định lượng thuốc phiện và các chất ma túy 10 khác làm căn cứ để xác định ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý hành chính, cũng như xác định trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a. Đồng thời, trong Thông tư này còn hướng dẫn cụ thể tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy.
Theo quy định tại Thông tư này thì những hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép thuốc phiện từ 100 gam trở lên và hành vi mua bán trái phép thuốc phiện với bất kỳ số lượng nào đều bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 96a BLHS năm 1985. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì dù là lần đầu và dưới bất cứ hình thức nào đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Thực tiễn 5 năm áp dụng Thông tư 07/TTLN cho thấy, Thông tư này đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống ma túy. Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập mà thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy đòi hỏi phải tháo gỡ, sửa đổi, bổ sung, đó là: + Thông tư liên ngành số 07/TTLN chỉ quy định vấn đề “định lượng” đối với thuốc phiện, còn các chất ma túy khác thì hướng dẫn “tính theo giá trị tương đương của thuốc phiện”.
Hướng dẫn này có nhiều hạn chế, bất cập, đúng như một nhà nghiên cứu đánh giá và đặt ra vấn đề phải giải quyết khi áp dụng là “Giá trị tương đương nói trong Thông tư số 07/TTLN là giá trị tương đương tính bằng tiền hay căn cứ vào tính độc hại, độ gây nghiện hay một đại lượng gì khác để quy đổi tương đương” [26, tr 13]. + Thông tư 07/TTLN vẫn chưa hướng dẫn cụ thể, thỏa đáng về hành vi trái pháp luật của người có trách nhiệm quản lý thuốc gây nghiện; về hành vi chiếm đoạt chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 203 BLHS năm 1985. Do một số vấn đề hướng dẫn tại Thông tư số 07/TTLN không còn phù hợp với tình hình tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, manh động nên TANDTC, VKSNDTC, Bộ nội vụ sau khi trao đổi ý kiến với Bộ y tế đã ban hành Thông tư số 05/TTLN ngày 31/08/1996 và Thông tư số 09/TTLN ngày 10/10/1996 hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985. Trong Thông tư số 09/TTLN ngày 10/10/1996, đề cập đến nhiều vấn đề mà thực tiễn đấu tranh phòng, chống ma túy đặt ra như: 11 + Xác định các chất ma túy thường gặp; + Các trường hợp cần giám định để xác định chất ma túy; + Giải thích từ ngữ (đưa ra khái niệm) đối với các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng chất ma túy; + Xác định đường lối xử lý cũng như trách nhiệm hình sự của người quản lý thuốc gây nghiện mà cố ý làm trái quy chế quản lý thuốc; + Quy định trách nhiệm hình sự trong các trường hợp chiếm đoạt chất ma túy; + Quy định số lượng chất ma túy làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a BLHS và các trường hợp có thể xử lý bằng biện pháp hành chính.
Đặc biệt là lần đầu tiên Thông tư số 09/TTLN đã đề cập đến vấn đề xác định cụ thể số lượng của nhiều loại ma túy thường gặp, đồng thời xác định rõ số lượng chất ma túy mà người phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán bị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình. Cụ thể là: người sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép dưới 20kg thuốc phiện phải chịu hình phạt tù có thời hạn, chỉ khi số lượng hàng phạm pháp vượt quá 25 kg thuốc phiện hoặc trên 1kg heroin (côcain) thì người phạm tội có thể phải chịu hình phạt tử hình. Mặc dù hình phạt quy định đối với những trường hợp này cũng khá nghiêm khắc nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đang có xu hướng tăng đột biến vào những năm 1996, 1997. Trước tình hình đó, qua nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh chống ma túy của một số nước trên thế giới, tổng kết thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật nhiều năm qua, ngày 10/05/1997, Quốc hội Khoá IX đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó quy định một chương riêng (Chương VIIA) “Các tội phạm về ma tuý”.
Chương này gồm 14 điều (từ Điều 185a đến Điều 185o), trong đó có 13 Điều quy định các tội phạm về ma tuý cụ thể (từ Điều 185a đến Điều 185n) và một số điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 185o). So với trước đây, Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS lần thứ tư này đã quy định 9 tội danh mới về ma túy, ngoài việc tách các tội phạm quy định tại Điều 96a BLHS năm 1985 (Trước khi sửa đổi, bổ sung lần thứ tư này) thành 4 tội danh độc lập quy định tại các Điều 185a, 185b, 185c, 185đ. Nghiên cứu các điều luật này thấy rằng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các tội sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma 12 túy nghiêm khắc hơn so với quy định tại Điều 96a BLHS và hướng dẫn áp dụng pháp luật tại Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 10/10/1996. Sau khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLHS năm 1985 ngày 10/05/1997, TANDTC, VKSNDTC, Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) đã có Thông tư liên ngành số 01/1998/TTLN ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS năm 1985 (sửa đổi).
Trong Thông tư này đã giải thích, hướng dẫn tương đối đầy đủ về các tội sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy và một số tội phạm khác của Chương VIIA. Mặc dù BLHS năm 1985 trong hơn chục năm thi hành đã có 4 lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là lần thứ 4 vào năm 1997 đã có đầy đủ những quy định cụ thể về tội phạm ma túy, xong về cơ bản thì Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 chỉ là giải pháp tình thế nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy. Do vậy, trong bối cảnh đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế mới - cơ chế thị trường định hướng XHCN giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hợp tác rộng rãi với các nước trong khu vực và trên thế giới nên BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với tình hình mới, cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện. Trên tinh thần đó, BLHS năm 1999 được ban hành thay thế BLHS năm 1985.
Trong BLHS năm 1999, các tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XVIII gồm 10 điều (từ Điều 192 đến Điều 201). So với BLHS năm 1985, quy định của BLHS năm 1999 về các tội phạm ma túy có những điểm mới sau đây: Một là, nhập 4 tội quy định tại các điều Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý) và Điều 185e (Tội chiếm đoạt chất ma tuý) thành một tội danh mới quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 (Thực chất đây là điều luật quy định tội phạm ghép). Do có việc nhập 4 tội quy định ở 4 điều luật khác nhau vào một điều luật, bởi vậy từ 13 điều quy định tội phạm về ma túy trong BLHS năm 1985, nay chỉ còn 10 điều luật quy định các tội phạm này trong BLHS năm 1999. Chúng tôi cho rằng, việc 13 BLHS năm 1999 nhập 4 tội quy định ở 4 điều luật và 1 điều luật có cùng chế tài là có cơ sở, vì các tội phạm này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không khác biệt nhau lớn.
Mặt khác, thực tế cho thấy, các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán chiếm đoạt chất ma túy thường đan xen nhau, hành vi này được thực hiện là tiền đề để thực hiện hành vi kia. Chẳng hạn, vận chuyển, tàng trữ là để mua bán chất ma túy. Chính vì vậy, nhiều nhà thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho rằng: “Nhiều vụ án tuy đã được khám phá, song rất khó phân biệt, bóc tách xem đâu là hành vi vận chuyển, đâu là hành vi mua bán, tàng trữ” [59, tr 7]. Do vậy, việc nhập các tội phạm này vào một điều luật cũng có bất cập nhất định.
Hai là, bỏ hình phạt tử hình đối với một tội; điều chỉnh mức xử phạt tù của từng khung hình phạt cho phù hợp với các loại tội phạm được phân loại ở phần chung của BLHS; hình phạt bổ sung không còn quy định ở một điều luật riêng mà đưa vào từng điều luật quy định các tội phạm.