LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường cũng như trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ hiện nay thì “giấy phép môi trường” luôn là một yếu tô giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả quản lý cũng như hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về “giấy phép môi trường”. Đa sô các quan điểm cho rằng “giấy phép môi trường” là giẫy tờ có giá trị pháp lý, do cơ quan Nhà nước có thấm quyền cấp cho các tô chức, cá nhân nhằm bảo đảm các yêu cầu về BVMTcũng như cho phép khai thác, sử dụng thành phần môi trường trong hoạt động kinh doanh, song cũng có những quan điểm cho rằng “giấy phép môi trường” chỉ là bao gồm các giấy phép về bảo đảm điều kiện BVMT trong hoạt động kinh doanh, không bao gồm các loại giấy phép khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Bên cạnh đó thì hiện nay pháp luật môi trường Việt Nam đang có quy định về rất nhiều loại “giấy phép môi trường”. Những loại “giấy phép môi frưởng ” này có thực sự giúp ích cho hoạt động quản lý, BVMT hay không, có gây can trở hoạt động kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả kinh doanh như một loại “giấy phép con” cần phải loại bỏ hay không, là những van đề cần phải được làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, ở thời điểm hiện nay Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang thực hiện kế hoạch sửa đổi Luật BVMT2014, trong đó một nội dung rất được quan tâm là sửa đổi bổ sung các quy định về “giấy phép môi trường ”. Từ những lý do trên, cho thấy việc nghiên cứu, làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn ban chất pháp lý của “giấy phép mồi trường”, hiệu quả của giẫy phép này trong quan lý, BVMTcũng như ảnh hưởng của nó đối với hoạt động kinh doanh nói riêng và đời sông xã hội nói chung là hét sức cân thiết.
Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Trong nước “Giấy phép môi trường” là một nội dung luôn thu hút sự quan tâm của các cơ quan nhà nước, tô chức, cá nhân hoạt động kinh doanh, đồng thời nó còn liên quan tới hầu hết các lĩnh vực bảo vệ môi trường, do đó trong những năm vừa qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới các loại giấy phép này. Cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu về “Giấy phép môi trường” như: “Giấy phép môi trường — Công cụ hữu hiệu để quản lý môi trường”, Tiến sĩ Hoàng Dương Tung, tạp chí Môi trường số 5/2013; “Quy định về “Giấy phép môi trường” sẽ theo hướng liên thông, tích hợp, thông nhất” (Báo Tài nguyên và môi trường — Báo điện tử của Bộ TN&MT, ngày 14/11/2017). Trong nghiên cứu này, tác giả đã trình bày một số nội dung về (i) Giấy phép môi trường và vai trò trong hệ thống quản lý môi trường (bao gồm các yêu cầu về khái niệm, vai trò và các nguyên tắc áp dụng giấy phép môi trường); (ii) Giấy phép môi trường trong mối tương quan với các công cụ chính sách môi trường khác, trong đó tác giả chú trọng tới việc phân tích và luận giải các yêu cầu về sự tương tác của giấy phép môi trường va DTM; và (iii) Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc áp dụng giấy phép môi trường.
Trong thời gian gần đây, khi Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 sửa đôi được đưa ra thảo luận, đã có rất nhiều các ý kiến trao đổi về các quy định liên quan tới giấy phép môi trường được trình bày trong Dự thảo. Dựa trên cơ sở nghiên cứu với chuyên đề “Xay dung khung pháp luật ở cấp độ luật, nghị định và thông tr về đánh giá tác động môi trường” thuộc Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh gid tác động môi trường đối với các du án đâu tr và kiểm soát, giảm sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh dang hoạt động. Xây dựng hướng dan kỹ thuật đánh gid tác động môi trường cho dự án khai thác khoảng sản, sản xuất thép” thuộc chương trình khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu. Quản lý Tài nguyên và môi trường giai đoạn 2 2016-2020 (Đề tài Bộ Tài nguyên và Môi trường, mã số: BĐKH/16-20), TS.
Mai Thế Toán (Tổng cục môi trường) đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về giấy phép môi trường. Theo đó, hiện trên thế giới có 2 phương thức cấp giấy phép môi trường là: giấy phép môi trường tổng hợp (đang áp dụng tại các nước EU, các quốc gia trong khối OECD.); nhiều giấy phép môi trường đơn lẻ, mỗi van đề môi trường có một giây phép riêng (đang áp dụng tại Hoa Ky, Ôxtrâylia, Trung Quốc. Việc áp dụng phương thức giấy phép tổng hợp hay đơn lẻ tùy thuộc vào hệ thống pháp luật và tình hình thực tế của từng quốc gia, tuy nhiên, đều bảo đảm nguyên tắc không chồng chéo, một đối tượng cụ thê không bị áp dụng cả 2 phương thức cấp phép. Theo xu thế hiện nay, một số quốc gia, như Hàn Quốc, đang chuyên đổi từ phương thức giấy phép riêng lẻ sang giấy phép tổng hợp, đặc biệt đối với các dự án quy mô lớn, có tác động lớn đến môi trường.
Tại một số nước EU (Đức), giấy phép môi trường không chỉ quy định, cho phép đối với vấn đề môi trường, mà còn mở rộng quy định các yêu câu, điều kiện về xây dựng.Trong khi đó, tại Việt Nam đang tổn tại một số loại giấy phép môi trường theo cả 2 phương thức cấp phép nêu trên. Từ đó, tác giả khăng định việc bổ sung, sửa đổi các quy định về giấy phép môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 sửa đôi là thực sự cần thiết và là bước tiễn lớn về cải cách hành chính trong Dự án Luật Bảo vệ môi trường sửa đồi. Bên cạnh đó, có một vai công trình nghiên cứu ma nội dung có đề cập ít nhiều tới “Giấy phép môi trường” như: “Bình luận một số quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường 2014” — Đề tài khoa học cấp trường do Bộ môn Luật Môi trường — Khoa pháp luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội bảo vệ năm 2016; Luận án “Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam” — Luận án Tiên sĩ - Vũ Thị Duyên Thủy — Đại học Luật Hà Nội; “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam” — Tiến sĩ Nguyễn Văn Phương — Đại học Luật Hà Nội, Tìm hiểu môn học Luật Môi trường — Sách chuyên khảo — NXB Dai học Quốc gia Hà Nội, 2017 (Vũ Thị Duyên Thủy, Nguyễn Văn Phương chủ biên),vv. 3 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã phần nào xác định được tính chất, đặc trưng của Giấy phép môi trường.
Tuy nhiên, do thời điểm thực hiện nên một số kết quả nghiên cứu sẽ không còn phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành cũng như tình hình thực tiễn hiện nay. Điều đó chỉ ra rằng, tính tới thời điểm hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, chi tiết về “Giấy phép môi trường ”, làm rõ bản chất của “Giấy phép môi trường” hay đánh giá đầy đủ vai trò và hạn chế của loại giấy phép này trong quản lý, bảo vệ môi trường cũng như trong hoạt động kinh doanh. Ngoài nước Cho tới thời điểm hiện nay chưa có một công trình khoa học nào trên Thế giới nghiên cứu một cách hệ thống về quy định pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện “Gidy phép môi trường” ở Việt Nam. Trong một vài công trình nghiên cứu chung về quản lý môi trường và quản lý chất thải, một số tác giả đã đề cập đến giấy phép môi trường.
Có thể kế đến một số cuốn sách tiêu biểu như: Cuốn sách Environmental Management — Problem and Solution (Quản lý môi trường — Vẫn dé và giải pháp) của các tác giả R.Ryan Dupon, Terry E.Baxter, Luois Theodore do nhà xuất bản Lewis Pulisher ấn hành năm 1998; Sách điện tử Tools for Environmental Management: A Practical Introduction and Guide (Cong cu quan lý môi trường: Giới thiệu và hướng dan thực hành) của tác giả Dixon Thompson; /oduction to Environmental Management (Giới thiệu về quan ly môi trường) của các tac gia Mary K. Theodore, Louis Theodore do CRC Press ấn hành tháng 10 năm 2009; Waste Management and the Environment VI (Quản ly chất thai và môi trường VI) của các tác giả V. Brebbia do WIT Press an hành năm 2012. Nhìn chung các công trình nêu trên chỉ đề cập đến các vấn đề chung về sử dụng GPMT dưới góc độ lý luận như là một trong số rất nhiều công cụ được sử dụng để quản lý và BVMTở các nước trên thế giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh.
4 Theo Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ (EPA), giấy phép bảo vệ môi trường sẽ được cấp cho chủ sở hữu hoặc người điều hành các cơ sở công nghiệp khác nhau theo Đạo luật Bảo vệ Hoạt động Môi trường năm 1997 (Đạo luật POEO). Việc cấp giấy phép nhằm bảo đảm chú trọng và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu về phòng ngừa và giám sát ô nhiễm, sản xuất sạch hơn thông qua tái chế và tái sử dụng trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của người dân. Các loại giấy phép môi trường theo đó được phân loại dựa trên các nhóm hoạt động và loại hình khác nhau. Ví dụ: giấy phép về công nghiệp và chat thải, giấy phép về sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của sinh vật biến đổi gen, giấy phép về nước và nước thải, giấy phép về môi trường không khí.
Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của dé tài của chủ nhiệm và những thành viên tham gia nghiên cứu 2.