CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình cải cách tư pháp cụm từ “ Tranh tụng” và “ tinh thần tranh tụng “ khi giải quyết vụ án được đề cập thường xuyên trong các văn bản của Nhà nước ta liên quan đến công tác xét xử tại Toà án , cụ thể : Nghị quyết số:49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị nêu rõ “ Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử , xác định rõ hơn vị trí , quyền hạn , trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai , dân chủ , nghiêm minh , nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử , coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp “. Khoản 5 điều 103 Hiến pháp 2013 ghi nhận “ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm “ BLTTDS năm 2015 có hiệu lực ngày 01/7/2016 đánh dấu sự tiến bộ trong hoạt động lập pháp khi lần đầu tiên ghi nhận “ tranh tụng “ là nguyên tắc cơ bản để giải quyết tranh chấp dân sự , đồng thời thể chế hoá tinh thần tranh tụng tại Toà án từ Nghị quyết 49/TW Bộ chính trị và Hiến pháp 2013. Tại điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự qui định :” Toà án có trách nhiệm hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo qui định của Bộ luật này “.
Hoà giải trong vụ án dân sự là một trong các thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ , việc về dân sự ( hiểu theo nghĩa rộng : các vụ án dân sự , hôn nhân gia đình , kinh doanh thương mại , lao động ) tại Toà án. Hoà giải vụ án dân sự là trách nhiệm của Toà án nhằm tạo điều kiện cho các đương sự có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật. Tính chất của hoà giải là tác động đến hai hay nhiều đối tượng có tranh chấp đạt đến sự thống nhất. Hoà giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Toà án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án , Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án , trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trước đây , BLTTDS 1 2004 , sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định hoà giải là một thủ tục tố tụng độc lập , BLTTDS 2015 đã qui định bổ sung , trong giai đoạn chuẩn bị xét xử , Toà án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp , tiếp cận công khai chứng cứ. Nhằm tiết kiệm thời gian , chi phí cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng , BLTTDS năm 2015 đã qui đinh gộp , tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp , tiếp cận , công khai chứng cứ và hoà giải. Về cơ bản , các qui định về hoà giải vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 kế thừa các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ( sửa đổi , bổ sung năm 2011 ).
Bên cạnh đó , Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng sửa đổi , bổ sung một số qui định về hoà giải nhằm bảo đảm sự tương thích với qui định của pháp luật dân sự và phù hợp với thực tiễn hơn. Tính chất của hoà giải là tác động đến hai hay nhiều đối tượng có tranh chấp đạt đến sự thống nhất. Bên cạnh đó hoà giải là một chế định trong tố tụng dân sự được qui định tại các điều 205 , 206, 207, 208, 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đây là một chế định rất quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự vì nó không chỉ khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc ta , nâng cao sự hiểu biết về chính sách , pháp luật của Đảng và nhà nước , góp phần ngăn chặn một số tội phạm có thể phát sinh từ những tranh chấp trong nội bộ nhân dân lao động.
Hoà giải còn giúp các bên đương sự tự nguyện thoả thuận với nhau về cách giải quyết tranh chấp mà không phải đưa ra xét xử trước Toà án , góp phần làm giảm số lượng vụ việc mà Toà án phải giải quyết , tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho Nhà nước , cho các đương sự , tránh được phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế nhà nước trong công tác thi hành án dân sự. Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự trong những năm gần đây cho thấy rằng : về cơ bản Toà án nhân dân các cấp đều nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc hoà giải nên đã làm tốt được công tác này , qua đó làm giảm đáng kể số vụ , việc phải đưa ra xét xử nhất là việc về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên vẫn còn nhiều Toà án xem nhẹ công tác hoà giải , chỉ tiến hành một cách qua loa như một thủ tục bắt buộc phải làm mà không chú ý nhiều đến hậu quả của nó ; hoặc khi hoà giải không làm đúng thủ tục về hoà giải ; hoặc hoà giải cả những 2 việc mà pháp luật không cho hoà giải , gây ra những hậu quả phản tác dụng đối với ý nghĩa của hoà giải bên cạnh đó việc hoà giải thật sự có hiệu quả khi Thẩm phán nắm vững các qui định của pháp luật , có kĩ năng , phương pháp , kinh nghiệm. Tuy nhiên , thực tế không phải Thẩm phán nào cũng có đầy đủ các kĩ năng trên , dẫn đến chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết các vụ án về dân sự chưa đạt được yêu cầu , mục đích hoà giải khi giải quyết vụ án dân sự và mong muốn của chính Thẩm phán.
Do ý nghĩa quan trọng của phương pháp hoà giải nên việc nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất pháp lý , giá trị xã hội , các căn cứ , điều kiện phương pháp tiến hành hoà giải ; những vi phạm trong việc áp dụng các qui định của pháp luật giải quyết các vụ án dân sự vào công tác hoà giải ; các hạn chế của pháp luật tố tụng hiện nay xung quanh việc áp dụng chế định này ; những đề xuất kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa các phương pháp về hoà giải. Xuất phát mục đích , ý nghĩa và tầm quan trọng của phương pháp hoà giải trong vụ án dân sự nên em chọn đề tài “ phương pháp hoà giải trong vụ án dân sự để nghiên cứu “. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có nhiều bài viết liên quan về đề tài này , với việc tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên , xuất phát từ tình hình thực tế trong hoà giải và phương pháp hoàgiải còn nhiều vấn đề cần đánh giá nên việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này là điều cần thiết.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Xem xét việc đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập , giao nộp chứng cứ trên thực tế như thế nào. Đối chiếu với qui định luật hiện hành xem có sự mâu thuẫn , bất cập hay không để từ đó có cách điều chỉnh phù hợp 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quyền và nghĩa vụ của đương sự được và phương pháp cách thức hoà giải qui định trong BLTTDS 2015 từ khi nộp đơn khởi kiện , đơn yêu cầu đến khi toà án ra bản án , quyết định có hiệu lực pháp luật 5. Phương pháp nghiên cứu 3 Thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin , các quan điểm của Đảng , nhà nước trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là : phân tích , đánh giá , so sánh , tổng hợp giữa qui định của luật và áp dụng thực tiễn , làm sáng tỏ những vướng mắc khi thực hiện nguyên tắc trên. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN , PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH HOÀ GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ 2.KHÁI NIỆM CỦA HOÀ GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2.1 Khái niệm hoà giải Tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới hai góc độ : Dưới góc độ pháp lý là một nghành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ hoạt động tố tụng là những hoạt động do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự thực hiện Dưới góc độ pháp lý , tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc về dân sự , hôn nhân gia đình , kinh doanh thương mại và lao động tại Toà án đảm bảo sự nhanh chóng , chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án , đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước và của công dân Xuất phát từ hai cách tiếp cận đối với tố tụng dân sự nên hoà giải trong tố tụng dân sự cũng có thể nhìn dưới hai góc độ : (1) dưới góc độ hoạt động tố tụng thì hoà giải là hoạt động tố tụng do Toà án tiến hành và (2)dưới góc độ pháp luật : Hoà giải là một chế định pháp lý. Để tìm hiểu khái niệm hoà giải trong tố tụng dân sự dưới hai góc độ này , trước tiên ta cần tìm hiểu khái niệm thuật ngữ “ hoà giải “. Theo từ điển tiếng Việt thì hoà giải là “ thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thoả “.
Khái niệm này đề 4 cập đến hành động và mục đích của hoà giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể của hoà giải. Trong từ điển pháp lý của Rothenberg, hoà giải (reconciliation)là “hành vi thoả hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp , mỗi bên nhượng bộ một ít “.