Chương 1 CEDAW và những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực lao động; Chương 2 Tình hình bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động dưới góc độ thực hiện CEDAW ở Việt Nam; Chương 3: Pháp luật lao động Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của phụ nữ - một số vấn đề đặt ra và biện pháp giải quyết. Tác giả đã hoàn thành luận văn với sự hướng dẫn khoa học của TS. Cao Đức Thái – Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.
Cao Đức Thái cùng sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong suốt quá trình học và làm luận văn vừa qua. CHƢƠNG 1 CEDAW VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con ngƣời của phụ nữ trong lĩnh vực lao động: Hồ Chí Minh đã từng nói "Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng", phụ nữ chiếm một nửa nhân loại. Vì vậy, theo Người "Nếu không giải phóng phụ nữ là chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa".
Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh rằng: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn nhiều sức lao động thì giải phóng lao động của phụ nữ" (Hồ Chí Minh: đd, t. Chúng ta đều thừa nhận rằng quyền lao động là một trong những quyền kinh tế - xã hội cơ bản của con người.
Phụ nữ chiếm hơn 50% lực lượng lao động. Do đó, nếu bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, đem lại cho phụ nữ vị thế bình đẳng như nam giới trong lĩnh vực này cũng có nghĩa là đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho tất cả mọi người. Hầu hết các nước trên thế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới đều đang ngày càng có sự đồng thuận cao ở mức độ quốc tế rằng nếu phân biệt về giới được xoá bỏ thì điều này có lợi không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị và công bằng xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có hàng triệu người trên thế giới đang không có việc làm hoặc không được tham gia vào môi trường lao động chỉ vì lý do giới tính hay nói rõ hơn chỉ vì họ là phụ nữ.
Sự phân biệt đối xử này đã hạn chế người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo và phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số không có cơ hội thể hiện quan điểm của mình trong công việc, không được tham gia một cách dân chủ, bình đẳng tại nơi làm việc và chịu thiệt thòi trong việc hưởng thụ tiền lương và phúc lợi xã hội. Vì vậy, thực hiện xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính và bảo đảm quyền của phụ nữ tại nơi làm việc là thực sự cần thiết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ giúp cho mọi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ có thể tự do lựa chọn nghề nghiệp cho riêng mình, từ đó giúp họ phát triển đầy đủ năng lực và được hưởng thành quả từ sự đóng góp của mình đối với công việc. Để đạt được sự bình đẳng và dân chủ này, trước hết cần phải tiếp cận vấn đề từ góc độ bảo đảm quyền con người của phụ nữ.
Một số nét chính về quyền con người của phụ nữ: Tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ rất sớm, song quyền con người - pháp luật về quyền con người chỉ ra đời khi có nhà nước và pháp luật. Những điều kiện cơ bản cho sự ra đời của quyền con người, gắn với chủ nghĩa tư bản, đó là xã hội công dân, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền. Điều đó không có nghĩa chủ nghĩa tư bản là điều kiện và cơ hội tốt nhất cho việc bảo đảm quyền con người. Quyền con người là một phạm trù lịch sử, bị giới hạn bởi các điều kiện lịch sử cụ thể.
Quyền con người được phản ánh qua các học thuyết triết học và một số đạo luật nổi tiếng của các quốc gia phát triển sớm trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ. Từ thế kỷ XVIII, khái niệm này được đề cập trong bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của Mỹ năm 1776: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Tiếp theo đó, bản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuyên ngôn nhân quyền và Tuyên ngôn dân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định: Mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về các quyền.
Ở nước ta, trong Tuyên ngôn độc lập, tiếp đó là Hiến pháp năm 1946 đã có nhiều quy định về quyền con người dưới hình thức các quyền công dân. Tuy nhiên, phải đến khi Liên Hợp quốc ra đời với Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và các điều ước quốc tế về quyền con người ra đời thì quyền con người mới bắt đầu một quá trình mới, quá trình quốc tế hoá, đồng thời chính thức trở thành chủ đề quan trọng, thường xuyên được đề cập trong quan hệ quốc tế. Hiến chương Liên Hiệp quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 được coi là những văn kiện đánh dấu bước ngoặt của vấn đề quyền con người trong lịch sử nhân loại, biến một vấn đề của quốc gia trở thành một vấn đề cơ bản liên quan đến mỗi con người và các quốc gia được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế. Một trong những nguyên tắc của quyền con người là quyền bình đẳng giữa các thành viên, trong đó, phụ nữ cũng như nam giới đều được đảm bảo các quyền con người như nhau trong pháp luật quốc tế và quốc gia.
Cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ đã diễn ra trong nhiều thời kỳ lịch sử. Thông qua các cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ của phụ nữ trên khắp thế giới, quyền của phụ nữ dần được phát triển. Các cuộc đấu tranh này xuất hiện trong những hoàn cảnh khác nhau và gắn với hiện thực kinh tế, chính trị, xã hội đa dạng ở các thời kỳ khác nhau. Ở chế độ thực dân, để xác định vai trò của mình trong xã hội, phụ nữ đấu tranh để đòi bảo đảm quyền lao động, quyền được trả lương bình đẳng, quyền dân sự và tự do.
Đến khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quyền của phụ nữ đã được ghi nhận, điều này đã được thể hiện rõ trong Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948. Vậy khái niệm quyền con người là gì? Quyền con người là quyền của tất cả mọi người. Đó là nhân phẩm nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người được luật quốc tế và luật quốc gia ghi nhận. Quyền con người là một phạm trù 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch sử, là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của nhân loại vươn tới những lý tưởng giải phóng hoàn toàn cho con người và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Quyền con người là những quyền không thể chuyển nhượng hay nói cách khác là quyền gắn liền với mỗi con người. Quyền con người là sở hữu vốn có của mỗi con người bất kể địa vị của họ trong nền văn hoá, hệ thống luật pháp hoặc chính trị cụ thể nào và không bị hạn chế bởi bất cứ yếu tố nào về chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo.và giới tính. Sự hiện hữu của quyền con người phụ thuộc vào sự tồn tại của con người chứ không phụ thuộc vào hoàn cảnh hoặc hệ thống xã hội mà người đó đang sinh sống. Quyền con người được quốc tế thừa nhận và hình thành nên một chuẩn mực tối thiểu để tất cả mọi người phải tuân theo ở mọi nơi, không phân biệt vùng và lãnh thổ.
Việc các quốc gia tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người có nghĩa các quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc về mặt pháp lý theo công ước, có nghĩa vụ thực hiện Công ước hoặc không tuân thủ áp dụng các quyền con người nào được quy định trong các điều ước quốc tế mà họ đã tham gia. Bình đẳng và không phân biệt đối xử là những nguyên tắc cơ bản của quyền con người.d Khái niệm bình đẳng giới không chỉ có nghĩa là phụ nữ và nam giới được đối xử giống nhau. Người ta đều công nhận rằng phụ nữ và nam giới có những đặc điểm khác nhau về giới tính. Sự khác biệt về giới chủ yếu do khuôn mẫu văn hoá của mỗi quốc gia tạo nên.
Phụ nữ và nam giới cũng có những vai trò quan trọng khác nhau trong việc xây dựng và phát triển xã hội và có những nhu cầu khác nhau. Do đó, Nhà nước cần xem xét sự khác biệt này trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách để thúc đẩy việc bảo đảm quyền con người và mang lại bình đẳng cho cả nam giới và phụ nữ. Thực tiễn cho thấy, mặc dù trong những năm gần đây, khái niệm bình đẳng giới đã được nhiều quốc gia chấp nhận và phong trào đấu tranh cho bình đẳng giới cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể song phụ nữ ở mọi quốc gia trên thế giới vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới. Phụ nữ vẫn đang là nạn nhân của tệ phân biệt đối xử trong gia đình, ngoài xã hội cũng như ở công sở.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể nói quyền công dân, quyền con người của phụ nữ còn bị vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau mà chưa có các biện pháp xử lý có hiệu quả. Bất bình đẳng về giới là một trong những lý do dẫn tới việc thế giới hình thành khái niệm “chuẩn mực quốc tế về quyền con người của phụ nữ”. Khái niệm này cụ thể hoá các điều khoản quy định về quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ với tư cách là tập hợp các quyền con người.