phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được bố cục 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bình đẳng giới trong lao động - việc làm. Chƣơng 2: Thực trạng bình đẳng giới trong lao động - việc làm ở Nghệ An Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở Nghệ An trong thời gian tới. 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM 1. Khái luận về bình đẳng giới trong lao động - việc làm 1.
Khái niệm về bình đẳng giới “Bình đẳng giới” là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại, về thực chất không ra khỏi nội dung của vấn đề bình đẳng nam nữ, là mục tiêu và thước đo trình độ phát triển của xã hội. Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội. Theo Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Bình đẳng giới thể hiện ở nhiều mặt: - Nữ và nam có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình. - Nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển. - Nữ và nam có quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng phụ nữ và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội, đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận.
Từ đó, nam và nữ có những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. 7 z Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản về quyền con người vừa là yêu cầu về sự phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững. Bình đẳng giới có những đặc điểm: - Tính ngang quyền: Để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu, không thể thiếu để đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ.
- Tính ưu đãi: Do đặc điểm sinh học và truyền giống của phụ nữ khác biệt so với nam giới, để đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ. - Tính linh hoạt: Đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến. - Tính phân loại: Bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và nam giới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần xã hội khác nhau trong các vùng lãnh thổ khác nhau, trong phạm vi quốc gia và trên thế giới. Để đạt tới mục tiêu bình đẳng giới, một số nguyên tắc cần lưu ý: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống, xã hội và gia đình; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới; chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật; thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.2 Khái niệm về lao động, việc làm Lao động, việc làm là vấn đề mà mọi người lao động, mọi tổ chức xã hội, mọi quốc gia rất quan tâm.
Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mà tốc độ gia tăng dân số, nguồn lao động khá cao trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo mở việc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, tư liệu sản xuất còn dưới mức thoả mãn của nhu cầu kết hợp với sức lao động. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm việc làm theo các chiều cạnh khác nhau. Lao động là những hoạt động mà con người thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cuộc sống trong môi trường xã hội. Trên một phương diện nào đó, thì lao động đồng nghĩa với việc làm.
Tại Điều 13, Chương II (Việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động 8 z tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Khái niệm này cũng được vận dụng trong các cuộc điều tra mẫu về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm: Sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm.
Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi và ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Ngưòi lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho người khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước. Điều đó đã khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của hàng triệu người lao động mà số đông là lao động nữ thuộc khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực kinh tế phi chính thức vốn là những khu vực bị phân biệt đối xử nặng nề trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung.
Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm. không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, và có ích nhưng 9 z không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhân là việc làm-chẳng hạn nội trợ hằng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình như: đi chợ, nấu cơm, rửa bát, dọn và lau nhà, giặt quần áo.
Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ được thừa nhận là việc làm vì được trả tiền công. Những hạn chế của quan niệm việc làm như trên là ở chỗ: Trước hết, tính hợp pháp của một hoạt động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia và cũng có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Có hoạt động được thừa nhận là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa nhận ở nước khác. Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được thừa nhân là việc làm ở Thái Lan, Philippines vì được luật pháp bảo hộ và quản lý, được bộ y tế và các cơ quan quản lý sức khoẻ của những nước này theo dõi, kiểm tra sức khoẻ định kỳ và cấp giấy phép hành nghề.
Hoạt động này có ích vì nó đáp ứng nhu cầu tình dục của một nhóm người trong xã hội và nó đem lại thu nhập cho lao động nữ. Nhưng mại dâm của phụ nữ ở Việt Nam được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm luật và không được thừa nhận là việc làm [12]. Hai là, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình, cho xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công. Đặc biệt dưới góc độ giới, việc làm của lao động nữ có những sắc thái riêng.
Hoạt động nội trợ ai cũng thừa nhận là quan trọng, cần thiết và thay vì đi làm ngoài xã hội, phụ nữ có thể ở nhà đảm nhận công việc nội trợ và giảm các khoản chi tiêu cho gia đình để các thành viên nam là chồng, con, anh, em. yên tâm đi làm ngoài xã hội kiếm tiền. Rõ ràng, trong trường hợp này nếu người phụ nữ đó đảm nhận một nghề nghiệp, một công việc ngoài xã hội sẽ được thừa nhận là việc làm vì tạo ra thu nhập.