CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE QUYEN CUA LAO ĐỘNG NU VÀ SỰ DIEU CHINH CUA PHÁP LUAT 1. KHÁI NIEM QUYEN CUA LAO DONG NU Quyền con người là khái niệm rộng, bao gồm các quyền của cá nhân, tập thể, của nhóm người, cộng người trong xã hội. Với những đặc trưng về giới tính, lao động nữ là một trong những nhóm lao động đặc thù cần phải được quan tâm, bảo vệ đặc biệt. Pháp luật lao động của Việt Nam và Thụy Điển không chi đưa ra các quy phạm pháp luật quy định chung về quyền áp dụng cho cá lao động nữ và lao động nam mà còn xây dựng những quy phạm riêng về quyền của lao động nữ nhằm đạt được mục tiêu bình dang về quyền và cơ hội giữa nam và nữ.
Quyên vôn là một khái niệm pháp lý. Quyền thé hiện những gì mà pháp luật cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Quyền của lao động nữ là bộ phận cau thành và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền của con người và được thừa nhận như là một giá trị xã hội - có nghĩa là nó được pháp luật ghi nhận và bao đảm thực hiện. Quyên của lao động nữ là khả năng xử sự mà pháp luật cho phép lao động nữ được tiến hành.
Nói cách khác quyền của lao động nữ là thước đo hành vi được phép của chủ thé lao động nữ trong quan hệ pháp luật lao động với mục đích thoả mãn lợi ích của mình và được bảo đảm bởi nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng lao động hoặc Nhà nước. Cần lưu ý là quyền của lao động nữ chỉ là khả năng xử sự. Nếu khả năng này được thực hiện trên thực tế thì xuất hiện một hiện tượng khác đó là sự thực hiện quyền của lao động nữ. Quyền của lao động nữ có một số đặc điểm là: - Kha năng của lao động nữ xử sự theo cách thức nhất định phù hợp với quy định của pháp luật; - Khả năng yêu cầu các chủ thể khác (người sử dụng lao động hoặc Nhà nước) cùng tham gia quan hệ thực hiện nghĩa vụ của họ nhằm đáp ứng quyền của mình; Yêu cầu các chủ thể đó tôn trọng các quyên, nghĩa vụ mới phát sinh từ quyên, nghĩa vụ đã có; Đồng thời có khả năng yêu cầu các chủ thể khác cham dứt các hành vi cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chung; - Khả năng của lao động nữ yêu cầu các cơ quan nha nước có thâm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế can thiết trong trường hợp quyên, nghĩa vụ chủ thé bị vi phạm.
Ở hau hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam và Thụy Dién đều quy định các quyền của lao động nữ nhằm mục đích để lao động nữ được bình đăng với nam giới. Việc quy định này nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và trên thị trường lao động. Sự bình đẳng giữa lao động nữ với lao động nam vừa là vấn đề quyền con người, vừa là điều kiện tiên quyết để đạt được sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội. Nội dung của quyển bình đăng giữa lao động nữ và lao động nam trong lĩnh vực lao động không đơn giản chỉ là việc thực hiện đúng nguyên tắc bình dang trong trả công lao động.
Cái chính là tạo cho lao động nữ có trình độ và điều kiện làm việc ngang hàng với nam giới, có chú ý đến những công việc phù hợp với sức khoẻ, chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ của họ. Cần khang định rõ quyền bình dang của lao động nữ trong lao động là có việc làm, có thu nhập chính đáng và các điều kiện lao động khác dù ở bất kỳ khu vực kinh tế nào. Vì vậy, tham gia sản xuất, hoạt động xã hội đến chừng mục nao là quyền do lao động nữ tự quyết định, không thể có sự áp đặt từ bất cứ phía nào - xã hội hay gia đình, chồng con. Chưa có một luật pháp nào bắt buộc người phụ nữ phải đi làm, không thê ở nhà với công việc bếp núc và nuôi con khi điều kiện gia đình cho phép.
Lại càng không thé có áp lực nào, dù dưới hình thức dư luận xã hội buộc người lao động nữ chỉ làm công việc gia đình, không được tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội. Mâu thuẫn giữa lao động nghề nghiệp va lao động gia đình không thể giải quyết bằng cách xoá bỏ một mặt nào đó: lao động nữ chỉ lo sản xuất hoặc chỉ ở nhà làm nội trợ. Điều quan trọng can suy nghĩ là: quyền có việc làm là quyên bình dang của moi phụ nữ nói chung, nhưng hiện nay họ làm việc quá vất vả, thu nhập nhìn chung còn thấp hơn so với nam gidi. Vi vay, can nang cao chat luong công việc, cải tiễn tổ chức sản xuất, áp dụng các tiền bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, giảm gio làm, tăng thời gian nghỉ ngơi và thu nhập cho lao động nữ.
Quyền của lao động nữ được quy định để tạo điều kiện cho lao động nữ được phát triển mọi tiềm năng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. Điều đó không có nghĩa là lao động nữ và lao động nam cần giống nhau hoàn toàn về quyền. Hai đối tượng lao động này khác nhau về giới tính, nhưng phải bình dang về quyên, trách nhiệm và cơ hội. Các quyền của lao động nữ được pháp luật ghi nhận trong lĩnh vực việc làm, tiền lương, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, lãnh đạo và quản lý.
Những quyền này của lao động nữ có thé thay đôi về số lượng và nội dung quyên tùy thuộc vào quan hệ pháp luật lao động trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Chang hạn, ở Việt Nam, lao động nữ chi được nghỉ trước và sau khi sinh đẻ tất cả là 60 ngày (Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961) thì hiện nay, do điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, lao động nữ đã được nghỉ trước và sau khi sinh con từ 4 đến 6 tháng tùy theo điều kiện lao động và vùng địa lý. 10 Quyền của lao động nữ là một phạm trù pháp lý có giới hạn. Bởi vì trong một quan hệ pháp luật lao động cụ thể thì quyền của người lao động bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của người sử dụng lao động và ngược lại.
Cho nên, để đảm báo hài hòa quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật, bên cạnh việc được thực hiện các quyền mà pháp luật quy định cho mình, lao động nữ còn phải thực hiện các nghĩa vụ nhằm đáp ứng quyền của chủ thê đối tác trong cùng quan hệ pháp luật. O Việt Nam, quyên của lao động nữ được quy định trong Hiến pháp - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất; trong Bộ luật lao động; các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật khác. Ở Thụy Điển, quyên của lao động nữ trong các lĩnh vực việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội được quy định ở nhiều Luật khác nhau. Ví dụ, Luật Các Cơ hội Bình đăng: Luật Nghỉ của Cha Mẹ; Luật Bảo vệ Việc làm; Luật Bảo hiểm Xã hội; Luật Lương hưu Tuôi già.
Là thành viên của EU Thụy Điển có nghĩa vụ thông qua toàn bộ các quy định pháp lý của cộng đồng chung Châu Âu và chịu sự tác động của luật lao động Châu Âu. Tom lại: Quyền của lao động nữ là khả năng của lao động nữ tự lựa chọn cách thức xử sự cho phù hợp với quy định của pháp luật lao động. Quyền của lao động nữ được Nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và được bảo đảm thực hiện bởi nghĩa vụ của chủ thể đối tác tham gia cùng quan hệ pháp luật lao động hoặc Nhà nước. Ý NGHĨA CUA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VE QUYỀN CUA LAO ĐỘNG NỮ Với tư cách là người lao động, lao động nữ Việt Nam và lao động nữ Thụy Điện đã và đang tham gia vào việc sản xuât ra của cải vật chat và những giá trị tỉnh thân cân thiệt cho xã hội.
Nhu câu lao động có thể xem là một trong những bản năng của con người. Ngày nay, những hoạt động lao động nghề nghiệp không chi là phương tiện dé tăng thêm thu nhập cho gia đình và dé được độc lập về kinh tế, ma đó còn là một giá trị tinh thần, một nhu cầu cần thiết dé thé hiện tất cả năng lực còn tiềm an của lao động nữ. Lao động nữ được coi là đối tượng lao động đặc thù. Tính đặc thù này thể hiện ở những đặc điểm về tâm sinh lí và thể lực.
Trong quan hệ lao động, lao động nam và lao động nữ có các đặc điểm tâm sinh ly và thé lực rất khác nhau. Thông thường, lao động nữ có thể lực yếu hơn nam giới, nhưng ở họ lại có đức tính kiên trì, khéo léo, chịu khó nên thường thích hợp với các ngành nghề cần sự kiên trì, khéo léo. Sự khác nhau về mặt sinh học đã tạo cho lao động nữ những chức năng riêng là mang thai, sinh sản và cho con bú. Những đặc điểm riêng về thé chất, tinh than, tâm sinh lý cũng như thiên chức sinh dé và nuôi con của lao động nữ đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tham gia quan hệ lao động của họ.
Bởi vậy, ngoài những quy định chung của pháp luật lao động (như các quy định về hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, tiền lương.) đều áp dung chung đổi với mọi người lao động (nam cũng như nữ) thì pháp luật lao động còn có những quy định riêng về quyền của lao động nữ nhằm bảo vệ họ trước những nguy cơ bất lợi có thể xảy ra do ảnh hưởng từ chính những yếu tố đặc thù nay. Các quy định về quyền của lao động nữ nhằm mục đích: Một là: Tạo điều kiện dé lao động nữ khi thom gia quan hệ lao động có thể kết hợp hài hòa giữa cuộc sống lao động và cuộc sông gia đình, tận dụng mọi tiềm năng dé phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho lao động nữ và gia đình của họ. Trong thực tế ở Việt Nam và Thụy Điển, lao động nữ là lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội. Điều này được chứng minh qua các con SỐ sau đây: 12 Ở Việt Nam, năm 2002, ước tính tổng lực lượng lao động là 40,69 triệu người.
70% nữ giới trong độ tuổi từ 16 đến 55 tham gia vào lực lượng lao động và lao động nữ chiếm 52% tổng lực lượng lao động.