Chương 1. Một số van đề lý luận về bảo vệ quyền của lao động nữ và pháp luật về bảo vệ quyên lao động nữ Chương 2. So sánh quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ theo Bộ luật lao động Việt Nam và Luật Lao động Lào Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhăm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyên của lao động nữ trong Luật Lao động 5 CHUONG 1.
MOT SO VAN DE LY LUAN VE BAO VE QUYEN CUA LAO DONG NU VA PHAP LUAT VE BAO VE QUYEN CUA LAO DONG NU 1. Khái niệm lao động nữ và bao vệ quyền của lao động nữ Từ khi sinh ra, lao động nữ đã mang những đặc tính riêng mà chỉ bản thân họ mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và lao động nữ. Ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, đàn ông có nhiều khả năng tham gia vào thị trường lao động hơn phụ nữ. Ở một số nơi trên thế giới, sự gia tăng lịch sử về sự tham gia của lực lượng lao động nữ cũng phản ánh sự khác nhau.
Trong giai đoạn 1980-2016, phần lớn các quốc gia đã chứng kiến sự gia tăng tỷ trọng phụ nữ được tuyên dụng. Trong đó, sự tham gia của lao động phụ nữ ở Lào có xu hướng cao hơn so với nam giới là 100.89%, còn ở Việt Nam tỉ lệ nay có phần thấp hơn tương đương 88. Pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật lao động hai nước Lào và Việt Nam nói riêng luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp dé dam bảo day đủ nhất quyền lợi cho nhóm lao động đặc thù này. Với cách tiếp cận này, tác giả luận văn tập trung phân tích và luận giải một số van đề lý luận về bảo vệ quyền của lao động nữ dé làm tiền đề phân tích các van dé tiếp theo của đề tài.
Khái niệm lao động nữ “Lao động nữ” la NLD mà xét về mặt giới tính được xác định là phụ nữ. Như vậy, cần xem xét khái niệm lao động nữ dưới các góc độ sau: Thứ nhất, xét về mặt sinh học lao động nữ là NLĐ có “giới tính nữ”. Giới là khái niệm về mối quan hệ xã hội- văn hóa giữa nam và nữ. Giới là cách dé xã hội chia con người thành các phạm trù, các loại va chỉ định cho mỗi loại một kiểu hành vi riêng, những trách nhiệm và quyền lợi riêng.
Sự phân công lao động theo giới là sự phân chia công việc giữa nam và nữ. Tuy có sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ nhưng những khác biệt về vị trí vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình, xã hội cũng do xã hội tạo nên, do đó có thê thay đổi được. Thông thường nhắc tới giới tính chúng ta hiểu là chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Bình dang giới Việt Nam năm 2006 thì giới tính là các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
Các đặc điêm giới tính chủ yêu gan với quá trình tái sản xuât ra con người, nhat là các đặc điêm ? Esteban Ortiz-Ospina và Sandra Tzvetkova (2017), “Working women: Key facts and trends in female labor force participation”, tại dia chỉ: https://ourworldindata.org/female-labor-force-participation-key-facts, ngày truy cập 20 tháng 06 năm 2017. 6 của hệ thống sinh sản của nam và nữ. Đặc điểm sinh học của nam và nữ khó thay đôi do chúng là sản phẩm của quá trình di truyền, tiền hóa sinh học lâu dai. Công ước số 111 về phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính không mang ý nghĩa phụ nữ hay giới tinh sinh học mà được hiểu là đặc điểm vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội tức là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Như vậy, sự xác định giới tính là đặc điểm riêng biệt nhất để phân biệt nam và nữ, chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con. Thứ hai, xét về mặt pháp lý thì lao động nữ là “người lao động”. Điều 6, BLLĐ Việt Nam năm 2006 đã đề cập tới khái niệm NLD, theo đó NLD là “người it nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đông”. Còn tại khoản 1 Điều 3, BLLĐ Việt Nam năm 2012 thì quy định cụ thé: “Người lao động là người từ du 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dung lao động”.
Ở Lào, Khái niệm người lao động được đề cập trong Luật Lao động Lào năm 2013: theo đó “NLD là người từ mười bốn tuổi đến sdu mươi năm, có khả năng làm việc” (khoản 2, Điều 3, Luật Lao động Lào năm 2013). Nhu vậy, một người đủ 15 tuổi bình thường được coi là người có khả năng dé tham gia quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong một sỐ trường hợp đặc biệt, NLĐ vẫn có thể là người đưới 15 tuổi như quy định của Luật Lao động Lào. Pháp luật hai nước Việt Nam và Lào có sự khác nhau về độ tuổi lao động được giải thích bởi quan điểm lập pháp của hai nước, các căn cứ về thể trạng, thể chất người lao động, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nên không giống nhau.
Quan điểm lập pháp của hai nước là khác nhau nhưng xét về mặt bản chất, hai khái niệm này đều chung một quan điểm là người lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động được xác định là NLD khi họ có day đủ năng lực chủ thé của NLD, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động va năng lực hành vi lao động. Nang lực pháp luật lao động là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của NLD. Năng lực hành vi lao động là khả năng của ca nhân băng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, gánh vác nghĩa vụ và hưởng quyên lợi của NLD. 7 Từ những sự phân tích trên, khái niệm về LĐN có thể hiểu như sau: người LDN là NLD có giới tinh nữ, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ.
Khái niệm bảo vệ lao động nữ và bảo vệ quyền của lao động nữ trong lĩnh vực lao động 1. Khai niệm bao vệ lao động nữ trong lĩnh vực lao dong Bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động là ngăn chặn mọi sự xâm hại có thê xảy ra đối với họ khi tham gia quan hệ lao động. Đây là tư tưởng xuyên suốt hệ thống các quy phạm pháp luật lao động và quá trình điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực lao động. Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo vệ là chống lại sự xâm phạm để giữ cho luôn nguyên vẹn.
Bảo vệ lao động nữ là việc Nhà nước và chính lao động nữ có những hoạt động, phương thức, biện pháp, tạo điều kiện hoặc tự mình thực hiện các quyền, ngăn chặn, chống lại sự xâm phạm chủ yếu từ phía chủ sử dụng lao động. Ở khía cạnh lao động thì van dé bảo vệ lao động nữ chu yếu được xem xét trong mỗi quan hệ giữa họ với người sử dung lao động, chống lại nguy cơ bóc lột sức lao động, bị đối xử bất công hay phải lao động trong những điều kiện không bảo đảm. Do đó, có thê hiểu “bảo vệ lao động nữ là phòng ngừa chong lại moi sự xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, thân thể, quyên và lợi ích hợp pháp của lao động nữ từ phía người sử dụng lao động trong quan hệ lao động ”. Việc bảo vệ lao động nữ thực hiện băng cách xác định nhiều nội dung, xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp thí dụ như: các quy định của pháp luật lao động về bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực: việc làm, học nghề; tiền lương thu nhập; an toàn vệ sinh lao động: thời gian làm việc nghỉ ngơi; bảo hiểm xã hội; kỷ luật lao động.
và hoàn thiện các quy định có liên quan đến các biện pháp bảo vệ để đảm bảo cho nội dung bảo vệ lao động nữ được thực thi (sẽ được tác gia phân tích ở mục 1. Khái niệm bảo vệ quyền của lao động nữ trong lĩnh vực lao động Bảo vệ quyền của lao động nữ là việc pháp luật lao động ghi nhận các quyền của lao động nữ trong quan hệ lao động và các biện pháp đảm bảo việc thực hiện các quyền của lao động nữ. NLD dù là nam hay nữ đều được pháp luật ở mỗi quốc gia bảo vệ dudi góc độ quyền công dân và được pháp luật quốc tế công nhận và đảm bảo. Ủy ban Quyền con người của Liên Hợp quốc đã có sự phân chia nhóm quyền con người trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quyền dân sự và dưới góc độ pháp luật lao động “Quyền của người lao động phải được bao đảm như quyền con người”.
Phụ nữ cũng là con người nên về mặt pháp lý quyền phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con người. Khi nói đến quyền phụ nữ là nói đến quyền bình đăng của phụ nữ với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về nguyên tắc, quyền phụ nữ phụ a Dang Thi Thom (2015), “Bao vé quyén lao động nữ theo Pháp luật lao động Việt Nam”, Tap chi TAND ky II (6), tr. thuộc vào thành quả của quá trình biến đổi, phát triển xã hội và việc thừa nhận bảo vệ, bảo đảm thực hiện các quyền phụ nữ là điều kiện không thé thiếu đối với việc bảo đảm và thực hiện các quyền của con người và quyền của cộng đồng dân tộc, quốc gia, quốc tế nói chung.
Có thể nói không bảo đảm thực hiện các quyền phụ nữ thì mới thực hiện được một nửa các quyền con người. Quyền phụ nữ cũng có tất cả những đặc trưng của quyền con người như tính phổ biến, tính không thé chuyên nhượng, tinh không thé chia cắt, tính tương tác và phụ thuộc lẫn nhau.nhưng cần nhắn mạnh là quyền phụ nữ có tính phổ biến đối với phụ nữ”. Quyền phụ nữ, sản phẩm của phát triển và tiến bộ xã hội, cũng đồng thời là kết quả được tạo ra từ sự nỗ lực, tự giải phóng, tự dau tranh của phụ nữ. Nó là một đại lượng rất căn bản của nhân tính, phản ánh sâu sắc những tiến bộ của chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn trong lịch sử.