CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE THE CHAP TAI SAN THEO PHÁP LUẬT LAO VA PHAP LUAT VIET NAM 1. Khái quát chung về thế chấp tai sản theo pháp luật của nước CHDCND Lào. Khái niệm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào. Không như Việt Nam, chế định thế chấp tài sản được quy định cụ thê trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
Ở CHDCND Lao vấn đề về thế chấp tài sản được quy định trong nhiều văn bản luật, như luật Giao dịch bảo đảm, luật Ngân hàng, luật Hợp đồng.Dù được quy định trong nhiều văn bản luật, nhưng hiện nay pháp luật Lào vẫn chưa đưa ra một định nghĩa nào cụ thể về thế nào là thế chấp tài sản. Theo Điều 12 Luật Giao dịch bảo đảm năm 1994 của Lào thì: Thế chấp tài sản là một hợp đồng, theo đó một con nợ đặt tài sản của mình dưới sự sở hữu của cá nhân được giao khác của chủ nợ hoặc để đảm bảo hoàn trả các khoản nợ. Còn theo Điều 5 Luật Giao dịch bảo đảm được sửa d6i năm 2005, thì “Bảo đảm theo hợp đồng là một thỏa thuận đảm bảo hoàn trả nợ giữa bên cho vay và bên vay bằng tài sản hoặc một thỏa thuận bảo đảm một cá nhân hay tô chức thay mặt bên vay trả nợ khi bên vay không thé thực hiện hợp đồng”. Theo Điều 34 của Luật Hợp đồng Lào năm 2008 về các biện pháp để đảm bảo sự thực hiện hợp đồng, thì: “Đề bảo đảm thực hiện hợp lý và để đáp ứng nhu cầu của các chủ nợ hoặc để bù đắp những thiệt hại có thể phát sinh sau đó đến một bên không thực hiện hoặc thực hiện bat hợp lý hợp đồng, luật cho phép áp dụng các biện pháp khác nhau, chăng hạn như cầm cố, bảo mật bằng tài sản thé chấp, người hoặc tổ chức pháp lý, và hình phạt”.
Từ quy định trên, có thể hiểu biện pháp thế chấp chấp tài sản tại CHDCND Lào là một biện pháp bao đảm dé thực hiện nghĩa vu hop dong, theo đó người vay tài sản đưa giấy tờ về tài sản thuộc sở hữu của mình cho chủ nợ như một tài sản bảo dam dé thi hành một nghĩa vụ, nhưng không giao tài sản đó cho chủ nợ. Đặc điểm thé chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào. Qua khái niệm thế chấp trên có thể nhận thấy thế chấp theo pháp luật Lào có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thé chap là một hop đồng, tức là có sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên là bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Thứ hai, thé chap là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vu, vì thế chấp có chức năng đảm bảo để thi hành một nghĩa vụ.
Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền có quyền cưỡng chế thi hành hợp đồng thé chấp dé đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Ti ba, thé chấp nói riêng và các biện pháp bảo đảm khác nói chung chỉ được áp dung dé dam bảo cho nghĩa vụ trả nợ, có thé trong hợp đồng vay hoặc các nghĩa vụ trả tiền trong các hợp đồng khác. Thứ tw, đôi tượng của thé chấp là tất cả các loại tài sản không bị giới hạn về phạm vi và điều kiện. Thứ nam, tài sản là đối tượng của thé chấp van do bên bảo đảm giữ.
Cu thể theo Điều 14 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào Quy định: “Quyền sở hữu vật chất đã thế chấp vẫn thuộc về bên vay nhưng vật chất đó được bên cho vay hoặc một bên được chỉ định nắm giữ. Các bên cho vay khác không có quyền nắm giữ vật thế chấp đó. Bên cho vay có bảo đảm hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó không có quyền sử dụng chúng hoặc hưởng hoa lợi, ngoại trừ được bên vay ủy quyền băng văn bản. Bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó phải chịu trách nhiệm về thiệt hại hoặc ton thất do mình gây ra.
Trong trường hợp vật thé chấp bị thất lạc hoặc mất cắp, bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp có quyền khiếu nại và lấy lại vật thế chấp đó”. Khái quát chung về thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam. Khái niệm thé chấp tai sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam Trong đời song sinh hoạt và hoạt động san xuất kinh doanh, nhu cầu về vốn là một nhu cầu cần thiết. Do đó, quan hệ vay tài sản là một quan hệ không thé thiếu và tương đối phd biến.
Quan hệ vay tài sản là loại quan hệ chứa đựng rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng lợi ích của các bên trong quan hệ. Vì vậy, khi xác lập quan hệ này, điều đầu tiên các bên quan tâm đó là lợi ích của mình sẽ được bảo đảm như thế nào và trong trường hợp này, thế chấp tài sản được coi là chiếc cầu nối không thể thiếu được, lợi ích của bên có quyền sẽ được bảo đảm bởi tài sản thế chấp của bên có nghĩa vụ. Do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh mà việc giao tài sản bảo đảm cho bên có quyền nắm giữ không những ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất kinh doanh của bên có nghĩa vụ mà quyên lợi của bên có quyền cũng không được bảo dam một cách tốt nhất. Van đề đặt ra là lựa chọn biện pháp bảo đảm nào vừa bảo đảm lợi ích của bên có quyền và vừa duy trì được sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ được bảo đảm ở mức độ cao.
Biện pháp thế chấp là biện pháp có thé đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên. Bên thế chấp không phải giao tài sản thé chap cho bên có quyền mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng nhận quyền tài sản và giấy tờ khác là điều kiện chuyên nhượng tài sản cho bên nhận thế chấp. Mặc dù bên thế chấp vẫn là người quản lý tài sản nhưng 10 không thê định đoạt tài sản vì giấy tờ pháp ly dé giao dịch, chứng minh quyền sở hữu tài sản đó, bên có quyền đang nắm giữ. Trong các quan hệ tín dụng, biện pháp thế chấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì ngân hàng sẽ chỉ cấp tín dụng cho khách hàng nếu họ có tài sản thế chấp.
Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu, thế chấp tài sản là sự thoả thuận của các bên hoặc theo qui định pháp luật. Theo đó bên có nghĩa vụ dùng tài sản của mình hoặc của người thứ ba dé bảo đảm nghĩa vụ nhưng không chuyển giao tài sản cho bên có quyền. Pháp luật dân sự hiện hành qui định “Thé chấp tài sản là việc bên thé chấp dung tài sản thuộc sở hữu cua mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thể chap” (Điều 342 BLDS 2005 ). Cụ thể, trong quan hệ vay tài sản, thế chấp tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, có thê hiểu là việc bên vay đem tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho khoản vay và không chuyền giao tài sản đó cho bên vay.
Theo pháp luật Việt Nam, thế chấp tài sản không chỉ đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay mà là đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nói chung mặc dù trên thực té quy định nay chủ yéu được áp dụng cho hop đồng vay. Đặc điểm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam Ngoài những đặc điểm của thế chấp giống của Lào như: thế chấp tài sản cũng là một hợp đồng, là biện pháp bảo đảm, nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và tài sản bảo đảm phải thỏa mãn điều kiện nhất định như thuộc sở hữu của bên bảo đảm, không có tranh chấp, được xác định. Thì thế châp tài sản ở Việt Nam còn có những đặc điêm: lãi Thứ nhất: không có sự chuyển giao tài sản. Đây là một đặc trưng riêng biệt của biện pháp thế chấp.
Trong thế chấp tài sản, bên thế chấp không phải chuyển giao tai sản cho bên nhận thé chấp mà vẫn trực tiếp nắm giữ tài sản đó, bên thế chấp chỉ phải chuyển giao các giấy tờ pháp lý (như giấy tờ chứng nhận quyên sở hữu tai sản). Trong một số trường hợp nếu các bên có thoả thuận thì tài sản thế chấp có thé giao cho người thứ ba quản lý. Đây là điểm khác biệt với cầm cô. Trong quan hệ cầm có, tài sản bảo đảm phải được chuyên giao cho bên nhận cầm cô quản lý và nam giữ.
Sự không chuyển giao tài sản không hề ảnh hưởng tới quyền lợi của bên nhận thé chấp hay nói cách khác quyền định đoạt đối với tài san thế chấp của bên nhận thé chấp không bi mắt hay giảm sút từ việc không trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp. Bên thế chấp là người trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp nhưng không thé định đoạt tài sản thé chấp, do giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đang do bên nhận thế chấp giữ. Thứ hai: trong quan hệ thé chấp một tài sản có thể bảo dam cho nhiễu nghĩa vu. Điều này xuất phat từ ban chất của thé chấp, đó là không có sự chuyển giao tài sản thế chấp.
Điều 324 BLDS 2005 qui định “Một tài sản có thể dùng dé bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu tài sản đó có giá tri tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác”. Như vậy, một tài sản có thé ding dé bao dam cho nhiéu nghia vu nếu như tai thời điểm xác lập các giao dịch, tổng giá trị các nghĩa vụ không vượt quá giá trị tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự quyền thoả thuận của các bên luôn được coi trọng, chính vì vậy các bên có thê thoả thuận dùng một tài sản có giá 12 trị bằng hoặc nhỏ hơn tông giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ đó. Điều 5 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 19/12/2006 về giao dịch bao dam (ND 163/2006/NĐ-CP) qui định “Truong hợp bên bảo dam dùng một tài sản dé bao đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì các bên có thé thoả thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tong giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật qui định khác”.
Ý nghĩa thế chấp tài sản đối với pháp luật nước CHDCND Lào và pháp luật Việt Nam.