Chương 1: Một số van dé chung về lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam Chương 2: Các quy định hiện hành của PLLD Việt Nam đối với việc bảo vệ lao động nữ - Nhận thức và thực hiện Chương 3: Yêu cầu đối với việc hoàn thiện PLLĐ và một số giải pháp nhằm bảo vệ hiệu quả lao động nữ 5 CHUONG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE LAO DONG NU’ THEO PHÁP LUAT LAO DONG VIET NAM 1. Khái niệm lao động nữ Lao động nữ là người lao động mà về mặt giới tính được xác định là nữ Từ đó ta có thé phân tích khái niệm lao động nữ dưới góc độ như sau: Lao động nữ phải là người lao động theo quy định của PLLD Khái niệm “øgười lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 3 BLLD 2012 như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HDLD, được trả lương và chịu sự quản lý,điều hành của NSDLĐ. Như vậy dé trở thành NLD hay nói cách khác dé trở thành chủ thé của quan hệ lao động thì đòi hỏi chủ thể phải thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định. NLD được tuyển chọn vào quá trình lao động phải là người “có khả năng lao động”.
Theo quan điểm truyền thống thì “khả năng lao động” của NLD thé hiện thông qua năng lực PLLD và năng lực hành vi lao động. Trong đó năng lực PLLĐ chính là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định cho họ có quyền được làm việc, quyền được trả công và có thê thực hiện những nghĩa vụ của NLĐ. Năng lực pháp luật là loại năng lực khách quan, ở bên ngoài và không phụ thuộc vào ý chi chủ quan của NLD. Năng lực PLLĐ được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật, nó có thể bắt nguồn từ những quy định của Hiến pháp.
Năng lực hành vi lao động của cá nhân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân mình, họ trực tiếp tham gia vào một quan hệ PLLĐ, để gánh vác những nghĩa vụ, thực hiện những quyền và hưởng quyền lợi của NLD. NLD một mặt thực thi được các quyên và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Mặt khác có thé tạo ra các quyền năng cụ thé cho mình trên cơ sở quyền năng mà pháp luật đã ghi nhận nhằm đạt được những giá tri, những lợi ích thiết thực cho bản thân mình, những cái đã đặt ra khi tham gia quan hệ lao động. Năng lực hành vi được thẻ hiện trên hai yếu tố điều kiện cần và đủ đó là thể lực và trí lực.
Thé lực của NLD thé hiện trên hai yếu tố cơ bản là hình thé và sức khỏe của NLD. Hình thể là sự kết hợp của các yêu tố khác nhau là biểu hiện bên ngoài có thể nhận biết được như: chiều cao, cân nặng.Đây cũng là một tiêu chuẩn khi xem xét, đánh giá và tuyển dụng lao động. Trong các ngành nghề người ta còn đặt ra những quy định cụ thể về tiêu chuẩn thể lực đối với NLĐ như tiêu chuẩn của lái xe, phi công, tiếp viên hàng không. những tiêu chuân đó nhăm đảm bảo hiệu quả của quá trình thực hiện công việc.
6 Khác với hình thé, sức khỏe của NLD là sức lực của NLD dé có thé thực hiện được các thao tác trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, thé lực cũng chưa tạo nên NLD thực thụ. Khi trở thành NLD trong quá trình lao động, NLD phải có kha năng nhận thức và điều khiển hành vi. NLD phải nhận thức được quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mình, phải điều khiển được hành vi của mình thông việc thực hiện các hoạt động lao động, có thái độ và sự phản ứng rõ ràng đối với các hiện tượng liên quan đến quá trình lao động.
Có năng lực hành vi thực sự tức là có khả năng tham gia quan hệ lao động. Dé có được khả năng đó, NLD cần có thời gian học tập và tích lũy kinh nghiệm. Theo luật quy định, một người đủ 15 tuổi được coi là đã có khả năng lao động thực thụ. NLD theo PLLĐ còn có thé dưới 15 tuổi có khả năng lao động.
Những người này có thê tham gia quan hệ lao động trong những ngành nghề Nhà nước cho phép như diễn viên, múa, hát. các nghề truyền thống như vẽ tranh sơn mài, thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, khi nhận trẻ em dưới 15 tuổi như trên vào làm việc phải đảm bảo các điều kiện: Đạt độ tuổi từ 12 trở lên (nếu tham gia biểu diễn nghệ thuật phải đủ 8 tuổi trở lên) đồng thời phải có sức khỏe phù hợp với công việc, có giấy cam kết và đồng ý theo dõi của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp, có sơ yêu lý lịch, thời gian làm việc không được quá 4h/ngay hoặc 24h/tuần, phải dam bảo thời gian học văn hóa và có HĐLĐ. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật.
Khi đó, đù có đầy đủ năng lực hành vi lao động nhưng người đó vẫn không được tham gia quan hệ lao động trong phạm vi pháp luật cam. Đó là trường hợp bị pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền cấm đảm nhận một số chức vụ hay cam làm một số nghề nhất định do vị trí xã hội của họ hoặc đo họ đã vi phạm pháp luật hay dé dam bao lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Ngoài ra NLD có thé là người nước ngoài làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam. Va để có thể tham gia quan hệ lao động tại Việt nam, họ phải đáp ứng những điều kiện nhất định như độ tuôi đủ 18 trở lên, trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao hoặc những công việc điều hành sản xuất mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được.
Hơn nữa họ phải không có tiền án, tiền sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam, không có tiền án tiền sự về tội hình sự khác hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật Việt Nam và 7 pháp luật nước ngoài, và phải có giấy phép lao động do cơ quan có thâm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp. Lao động nữ là NLD có giới tính nữ. Dưới góc độ sinh học, nam gidi- nữ giới chỉ là sự khác biệt giữa giống đực và giống cái. Chúng ta không thé đưa ra định nghĩa thé nào là nữ và thế nào là nam, bởi hai khái niệm này luôn phụ thuộc vào nhau.
Phụ nữ - với những đặc trưng đặc biệt về giới tính, đó là chủ thé của sự kết hợp giữa lao động sản xuất ra của cải vật chất và lao động tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Bên cạnh chức năng lao động thì lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức cao quý của người phụ nữ là làm mẹ. Tóm lại, lao động nữ theo PLLD là NLD có giới tính nữ, đủ 15 tudi, có khả năng lao động và có giao kết HDLD. Trong một số trường hợp có thể chưa đủ 15 tuổi, là người có năng lực hành vi lao động chưa đầy đủ.
Vai trò của lao dong nữ trong xã hội Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và cũng chiếm quá nửa lực lượng lao động xã hội. Dưới chế độ phong kiến, theo quan niệm “tam tòng tứ đức” hà khắc, người phụ nữ chỉ có vai trò thứ yếu trong gia đình và xã hội, hoàn toàn lệ thuộc vào người đàn ông. Xã hội chỉ đề cao vai trò của nam giới và có những định kiến nặng nề, khắc nghiệt đối với người phụ nữ. Điều đó đã khiến người phụ nữ bị thiệt thòi và tụt hậu so với nam giới.
Họ không có hoặc rất ít cơ hội tham gia khăng định bản thân mình trong các lĩnh vực lao động ngoài xã hội. Ngày nay, do sự phát triển của xã hội, những tư tưởng phong kiến lạc hậu đã bị lỗi thời bị xóa bỏ thì lao động nữ đã có nhiều cơ hội tham gia đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Đã có tới 24,4% dai biểu nữ trong Quốc hội (khóa XIII); số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 chiếm tỷ lệ trên 31,12%, là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao trong khu vực và thế giới.
Trong thực tế, phụ nữ đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính và doanh nghiệp. Đây là băng chứng sinh động về chính sách của Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm vì sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ. Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước những đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, dù bất cứ ở đâu, trong lĩnh vực nào thì vai trò của người phụ nữ cũng không thê thiếu.
Lao động nữ đã tham gia trong mọi ngành mọi lĩnh vực kinh tế, trong các doanh nghiệp ở nước ta, tầm quan trọng của 8 các lao động nữ là rat lớn, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt trong lao động. Nhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ các lao động là nữ. Trong nhóm các ngành công nghiệp nặng thì tỷ lệ lao động nữ có thấp hơn. Trong ngành nông nghiệp, với gần 10 triệu hộ nông dân tương ứng với 28 triệu lao động thì phụ nữ chiếm tới 53,3 %.
Day là ngành vốn tập trung đông lao động nữ. Vì công việc chủ yếu mang tính chất thủ công, không gò bó về mặt thời gian, không đòi hỏi trình độ đào tạo cao, chủ yếu do thói quen công việc. Đối với ngành công nghiệp tỷ lệ lao động nữ vào khoảng 45%. Lao động nữ chiếm ưu thế tuyệt đối trong các ngành công nghiệp nhẹ như công nghiệp chế biến, dệt may, da giầy.
Lao động nữ trong các ngành này vào khoảng 70%. Các ngành công nghiệp nặng như sản xuất kim loại, công nghiệp khai thác đá. lao động nữ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong lĩnh vực y tế, lao động nữ cũng chiếm khoảng 60%.