Chương 1: Cơ sở pháp lý về tranh chấp lao động và vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động. Một số quy định về hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng lao động Quan hệ lao động là mối quan hệ giữa giới chủ (người sử dụng lao động) và người lao động. Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong xã hội, phụ trách nhiều vị trí cũng như đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong một tổ chức, có thể phân người lao động thành hai nhóm chính: -Lao động phổ thông: Công nhân, thợ, người làm thuê, người giúp việc… -Lao động trí thức: Nhân viên, công chức, viên chức… Có thể nói, Người lao động là danh từ chung dùng để nói đến những người làm công ăn lương bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc về tinh thần cho người khác. Một người lao động đóng góp sức lao động và chuyên môn để nổ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với sự giao kèo giữa hai bên (hợp đồng lao động) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.
Trên thế giới, hợp đồng lao động là một chế định truyền thống, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Bộ luật Lao động và là một chương không thể thiếu của hầu hết các Bộ luật Lao động của các nước trên thế giới. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), “Hợp đồng lao động là một thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một người sử dụng lao động và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc” 2. Ở Việt Nam, ngay từ sắc lệnh số 29/SL ngày 12-03-1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hợp đồng lao động đã được quy định tại chương thứ III với tên “khế ước làm công”. Tuy nhiên, sau đó, trong một thời gian dài, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, chế định tuyển dụng vào biên chế Nhà nước theo Nghị định 24/CP ngày 13-03-1963 của Hội đồng Chính Phủ đã giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành quan hệ lao động trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước.
Hợp đồng lao động vẫn còn tồn tại nhưng chỉ với ý nghĩa “phụ trợ” cho chế độ tuyển vào biên chế. Chỉ vào giữa những năm 1980, khi đất nước thực hiện 2 Bài viết “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động và thực trạng áp dụng ở Việt Nam”, Tác giả Diệp Thành Nguyên- Trường Đại học Cần Thơ Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí nghiên cứu khoa học 2004: 2 32-40. 123doc 7 đổi mới tư duy kinh tế, tư duy pháp lý, thì vấn đề hợp đồng lao động mới dần dần được áp dụng. Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì “hợp đồng lao động có hai hình thức là văn bản và lời nói”3.
Khi giao kết hợp đồng lao động, các bên (người lao động và người sử dụng lao động) phải ký kết bằng văn bản, trừ trường hợp đối với một số công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng thì các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói. Việc giao kết hợp đồng lao động phải bảo đảm các nguyên tắc: + Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; + Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Hợp đồng lao động có các loại là: + Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; + Hợp đồng lao động xác định thời hạn; + Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định. Trải qua từng giai đoạn lịch sử, có thể chứng minh được Hợp đồng lao động có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội.
Trước hết, hợp đồng lao động là cơ sở để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác, đây là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc, tự do, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc. Thông qua hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động (người lao động và người sử dụng lao động) được thiết lập và xác định rõ ràng. Đặc biệt, hợp đồng lao động quy định trách nhiệm thực hiện hợp đồng và nhờ đó đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động (vốn luôn ở thế yếu trong quan hệ lao động).
Trong tranh chấp lao động cá nhân, hợp đồng lao động được xem là cơ sở pháp lý chủ yếu để giải quyết tranh chấp lao động. Đối với việc quản lý Nhà nước, hợp đồng lao động là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều chỉnh quan hệ lao động, quản lý nguồn nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp, kể cả trong các cơ quan, đơn vị hành chính. Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật lao động, có vị trí quan trọng trong việc vận hành quan hệ lao động. Nội dung của hợp đồng lao động liên quan đến hầu hết chế định của 3 Điều 16 Bộ luật Lao động 2012 123doc 8 Bộ luật Lao động và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết khi có tranh chấp lao động xảy ra, là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao động.
Có thể nói, vai trò, ý nghĩa của HĐLĐ ngày càng được khẳng định, việc giao kết hợp đồng lao động hiện nay đã đem lại nhiều kết quả khả quan trong việc sử dụng lao động, nâng cao năng suất lao động, kết hợp hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao động là sự kết thúc quan hệ lao động, một số trường hợp sẽ ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, cuộc sống của người lao động, hoặc có thể gây thiệt hại cho người lao động. Mặt khác, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, người lao động khi ký kết hợp đồng chỉ quan tâm đến thu nhập mà không chú ý đến nội dung công việc, nên khi xảy ra tranh chấp các cơ quan chức năng và Công đoàn không có cơ sở để hòa giải và giải quyết. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp lao động Theo Bộ Luật Lao động 2012: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động”.
Bên cạnh đó, tại Khoản 1 Điều 7 Bộ Luật Lao động 2012 quy định “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau” 4. Quan hệ lao động được thiết lập trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận, đối thoại theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Vì vậy việc giải quyết tranh chấp lao động cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Kinh tế thị trường là nơi diễn ra các hoạt động lưu thông hàng hóa và trong thị trường và sức lao động được xem là một loại hàng hóa đặc biệt.
Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động thông qua quan hệ mua bán giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quá trình mua bán sức lao động trên thị trường lao động xác lập nên quan hệ lao động, các bên phải thỏa thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử dụng lao động khác. Về bản chất, quan hệ lao động trong thị trường lao động là quan hệ được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện. Tuy nhiên, trong quá trình thỏa thuận, người lao động luôn muốn bán sức lao động của mình với giá cao (tiền công, tiền thưởng cao, điều kiện lao 9 Khoản 6 Điều 3 Bộ Luật Lao động 2012 123doc 9 động tốt), và ngược lại người sử dụng lao động lại muốn mua sức lao động với giá thấp.
Như vậy, quan hệ lao động là quan hệ bất tương xứng giữa một bên là chủ sử dụng lao động, chủ sở hữu tư liệu sản xuất, có quyền quyết định mọi vấn đề về quan hệ lao động và một bên là người lao động chỉ có sức lao động, có rất ít quyền quyết định các vấn đề trong quan hệ lao động. Do sự bất tương xứng trong quan hệ lao động sẽ làm phát sinh những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động. Mâu thuẫn này nếu được giải quyết hài hòa, phù hợp với lợi ích của các bên thì quan hệ lao động được duy trì. Ngược lại nếu mâu thuẫn này không được giải quyết thì tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động xảy ra là điều tất yếu.
Ở nước ta, quan hệ lao động là một loại quan hệ đặc biệt bởi vì nó vừa là quan hệ kinh tế vừa là quan hệ có tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Mặt khác, nó là quan hệ cá nhân nhưng đồng thời lại mang tính tập thể và vừa là quan hệ dân sự vừa là quan hệ mang tính hành chính, chịu sự quản lý. Do đó, xem xét ở một góc độ nào đó, có thể nói rằng quan hệ lao động trong thị trường lao động là sự tổng hoà của các quan hệ xã hội. 5 Quan hệ lao động được thiết lập giữa 2 bên: Người sử dụng lao động và người lao động, thông qua hợp đồng lao động.
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, tranh chấp xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động là không thể tránh khỏi. Mặc dù các bên trong quan hệ lao động đều biết rằng tranh chấp lao động xảy ra sẽ để lại hậu quả không tốt. Trước hết là thiệt hại về kinh tế, không khí lao động căng thẳng, ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, suy giảm năng suất lao động, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp bị tổn hại.
Song vì nhiều lý do mà các bên chưa tìm được giải pháp phù hợp, nhất là coi trọng thương lượng để đạt được thỏa thuận nhất định phù hợp với lợi ích của mình. 10 Tác giả Phạm Thị Hồng Đào.