Chương 1: Lý luận về tranh chấp lao động tập thể về quyền và giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền 1. Khái niệm tranh chấp lao động tập thể 1. Khái niệm về tranh chấp lao động Cụm từ “Tranh chấp lao động” là một cụm từ mới được sử dụng ở nước ta trong khoảng thời gian gần đây. Trước năm 1985, các khái niệm tranh chấp lao động hầu như không được nhắc đến.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng như trên là do vào thời kỳ đó, quan điểm của Đảng và nhà nước ta là xây dựng nền kinh tế hướng theo kế hoạch hóa tập trung, người lao động chính là công nhân, viên chức nhà nước, chính vì vậy sức lao động chưa được xem như là một loại hàng hóa. Người lao động được tuyển dụng vào biên chế nhà nước và họ phải thực hiện nhiệm vụ do cơ quan, xí nghiệp nhà nước giao cho. Nếu không đồng tình hoặc cần đưa ra vấn đề liên quan đến quyền lợi của cá nhân ra yêu cầu giải quyết thì người lao động được sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo theo Thông tư số 436/TTG ngày 13/9 về trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại khiếu nại, tố cáo của nhân dân1. Những khiếu nại, tố cáo được xem là những vấn đề thuộc lĩnh vực hành chính, vì thế đa phần được giải quyết theo thủ tục hành chính.
Đặc biệt có một số trường hợp, sau khi giải quyết xong nhưng đương sự không đồng ý thì cơ quan lao động chuyển hồ sơ sang viện kiểm sát và tòa án nhân dân cùng cấp giải quyết. Khái niệm về nội dung “tranh chấp lao động” được chính thức đề cập qua thông tư liên ngành số 02/TT – LN ngày 02/10/1985 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bô tư pháp – Bộ lao động – Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân về một số việc tranh chấp lao động. Theo đó đoạn đầu tư Thông tư này có ghi “Trong khi chờ đợi Bộ Luật Lao động quy định đầy đủ thẩm quyền của Tòa án nhân dân và thủ tục xét xử những tranh chấp lao động, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 10/HĐBT ngày 14/01/1985 quy định chuyển sang tòa án nhân dân xét xử những việc sau đây, đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý nhưng đương sự còn khiếu nại hoặc không chịu bồi thường…”. Tuy nhiên, tại Thông tư liên ngành số 02/TT, khái niệm tranh chấp lao động không được xác định về nội hàm mà chỉ là một cụm từ có tính thông 1 Phủ Thủ tướng (1958) Thông tư số 436/TTG ngày 13/9 về trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại khiếu nại, tố cáo của nhân dân, Hà Nội 123doc 7 báo.
Không ai có thể định hình tranh chấp lao động là gì, hoặc đó là tranh chấp giữa ai với ai, tranh chấp về cái gì… Trước đây tranh chấp lao động được hiểu là các “Xích mích” giữa công nhân và người sử dụng lao động. Sắc lệnh số 64/SL ngày 08/05/1946 về tổ chức các cơ quan lao động trong toàn cõi Việt Nam có quy định tại Điều thứ tư về nhiệm vụ của Thanh tra lao động là “Dàn xếp những xích mích xảy ra giữa chủ hay cơ quan dùng công nhân và công nhân”; Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 quy định toàn cõi Việt Nam những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân, người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương đếm và các nhà làm nghề tự do. Điều thứ 49 có ghi “Trong tập hợp khế ước có thể sẽ để cho trọng tài xét xử những xích mích xảy ra do việc thi hành khế ước”; Sắc lệnh số 95/SL ngày 13/08/1949 về việc tổ chức hai ngạch Thanh tra và Kiểm soát lao động quy định một trong các nhiệm vụ của Thanh tra lao động là “dàn xếp những sự xích mích xảy ra giữa chủ hay cơ quan dung công nhân và công nhân”. Khái niệm “xích mích này tồn tại khá lâu trong hệ thống pháp luật của Việt Nam lúc đó, nhưng cụm từ này lại không hề được làm rõ về nội hàm.
Người ta thừa nhận khái niệm “xích mích” trong quan hệ lao động như một vấn đề quen thuộc của đời sống. Có quan điểm cho rằng, tranh chấp lao động là sự “bất đồng ý kiến” giữa các chủ thể của quan hệ lao động. Quan điểm này chú ý đến việc tiếp cận các tranh chấp lao động chủ yếu ở khía cạnh tinh thần, vấn đề thuộc lĩnh vực “giải phóng tư duy” của các bên tranh chấp. Quan điểm khác cho rằng, tranh chấp lao động là sự xung đột giữa các bên trong quan hệ lao động.
Những người theo quan điểm này phần nào xác định được đối tượng của tranh chấp lao động là gì, nói cách khác, chưa nêu rõ được việc những người tạo nên hoặc tham gia vụ tranh chấp đó nhằm mục đích hay mong muốn gì. Một định nghĩa khác được ghi nhận trong các quy định của Bộ Luật Lao động đầu tiên của Việt Nam đó là tại Điều 157 Bộ Luật Lao động năm 1994, theo đó “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và quá trình học nghề”2. Tuy có được sự giải thích về nội 2 Quốc hội (1994) Bộ luật lao động, Hà Nội 123doc 8 hàm nhưng quy định đó của Bộ Luật Lao động chưa chỉ rõ được bản chất của tranh chấp lao động. Do đó, muốn hiểu được một cách thấu đáo cần đi vào tìm hiểu một số khía cạnh căn bản của tranh chấp lao động.
Tranh chấp lao động là một cụm từ ghép, trong đó, tranh chấp được hiểu là sự tranh giành một cái gì đó3. Sự tranh giành đó cho người ta cảm nhận về số lượng nhất định những người tham gia cũng như sự thể hiện của nó ra bên ngoài. Không thể có việc một người tạo nên và chỉ có người đó là nhân vật duy nhất trong một vụ tranh chấp. Một tranh chấp nào đó cũng phải có từ ít nhất hai cá thể trở lên.
Tranh chấp lao động không chỉ là tranh chấp về sự việc, tức là xung đột về hành vi liên quan đến hoạt động chức năng của người lao động. Tranh chấp lao động là loại tranh chấp về các vấn đề liên quan đến quá trình lao động, tức là quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt mối quan hệ lao động giữa các bên4. Không chỉ có vậy, tranh chấp lao động còn bao gồm cả sự xung đột liên quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại diện lao động…tức là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của các bên gồm người lao động và người sử dụng lao động. Do đó, có thể hiểu tranh chấp lao động là một khái niệm khá rộng, khá bao trùm bởi lẽ, quyền và lợi ích các các bên trong quan hệ lao động là những yếu tố hết sức phức tạp.
Bên cạnh các quyền và lợi ích trực tiếp và đối xứng giữa các bên như nghĩa vụ làm việc, quyền hưởng thù lao, nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện lao động, quyền tiếp nhận các thành quả lao động của lao động, giữa các bên còn nảy sinh các quyền và lợi ích khác. Ví dụ, quyền của người sử dụng lao động trong việc đòi hỏi người lao động bồi thường các thiệt hại do người lao động gây ra; quyền thành lập, gia nhập hoạt động công đoàn của người lao động….Những quyền và lợi ích đó cũng trở thành đối tượng của tranh chấp lao động. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì ở thời điểm hiện tại Bộ Luật Lao động năm 2012 có đưa ra khái niệm về tranh chấp lao động một cách chung nhất bao hàm khá đầy đủ các nội dung trên, theo đó khoản 7 Điều 3 của Bộ luật có quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động 3 Các tác giả (2001) Từ điển tiếng Việt, Nxb, Đà Nẵng 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008) Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 123doc 9 cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động”5 Khi định dạng một tranh chấp lao động cần lưu ý một số điểm sau đây: - Tranh chấp lao động phải là sự xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ lao động.
- Sự xung đột đó diễn ra trong quá trình lao động. - Sự xung đột giữa các bên tranh chấp phải gắn với, xuất phát từ quyền, lợi ích của các bên liên quan đến quá trình lao động đó mà không phải là quyền, lợi ích khác ngoài quá trình lao động. - Xung đột giữa các bên nói trên phải được thể hiện qua một hình thức nhất định và biểu đạt rõ yêu cầu của một hoặc tất cả các bên về sự giải quyết tranh chấp lao động trong đó. Như vậy, cũng cần phải phân biệt tranh chấp lao động với các vụ việc lao động.
Các vụ việc về lao động bao hàm các tranh chấp về lao động. Hay nói cách khác, tranh chấp lao động là một dạng của vụ việc lao động. Song ngược lại, một vụ việc lao động chưa hẳn đã là một tranh chấp lao động ví dụ: Nguyễn văn A và công ty X xung đột nhau về khoản tiền đặt cọc của Nguyễn Văn A cho công ty khi đi làm việc nước ngoài… Sự phân biệt này rất quan trọng, kể cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Khái niệm tranh chấp lao động tập thể Không phải nước nào có sự phân chia Tranh chấp lao động thành Tranh chấp lao động cá nhân và Tranh chấp lao động tập thể cũng xây dựng khái niệm tranh chấp tương ứng trong luật.
Có nước chỉ xây dựng khái niệm Tranh chấp lao động cá nhân, còn khái niệm Tranh chấp lao động tập thể được hiểu theo phương pháp loại trừ. Chẳng hạn, ở Pháp, Bộ Luật Lao động năm 1952 của Pháp quy định việc thành lập toà án lao động để “xét xử tất cả các vụ tranh chấp cá nhân liên quan đến hợp đồng tuyển dụng giữa người lao động và người sử dụng lao động”. Trong Bộ Luật Lao động của Pháp không đưa ra định nghĩa về Tranh chấp lao động tập thể6.