phần mở đầu, Công ước đã xác nhận rằng: Sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới và chính nó đã vi phạm các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người, là một trở ngại đối với việc phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá, cản trở sự tăng trưởng của xã hội và gia đình, gây khó khăn cho sự phát triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người. Xuất phát từ quan điểm này, các nhà soạn thảo Công ước đã xây dựng các điều khoản pháp lý cụ thể, theo đó, quy định các nước thành viên tham gia công ước có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp nhằm xoá bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá. Công ước đã đề cập tới nhiều lĩnh vực cụ thể như: giáo dục, gia đình, phân công lao động, cơ hội, nghề nghiệp, lương bổng…Công ước cũng đề cập đến một số quy chế và cơ chế để thực hiện Công ước này. Nội dung cơ bản của CEDAW là hướng vào các cách thức, biện pháp nhằm loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong thụ hưởng các quyền con người 18 z đã được quy định trong các điều ước quốc tế về nhân quyền, từng bước xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ.
CEDAW đã chỉ ra những lĩnh vực cụ thể hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xới phụ nữ, từ đó, quy định những biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Sự ra đời của CEDAW đã thu hút được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều quốc gia và các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ trên toàn thế giới. Ngày 3/9/1981, sau khi được nước thứ 20 thông qua, Công ước này bắt đầu có hiệu lực với tư cách là một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về bảo đảm quyền của phụ nữ và bình đẳng giới. Công ước là kết quả của hơn 30 năm đấu tranh nhằm chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ do Uỷ ban về địa vị phụ nữ của Liên Hợp quốc thực hiện.
Tính đến nay đã 25 năm trôi qua, kể từ khi CEDAW chính thức có hiệu lực, đã có 179 quốc gia ký kết và phê chuẩn Công ước này (chiếm 92% số thành viên LHQ). Các nước thành viên đã và đang sử dụng Công ước như một công cụ trong cuộc đấu tranh bảo đảm quyền cho phụ nữ và bình đẳng giới nhằm tiến tới một xã hội tiến bộ, công bằng và phát triển bền vững. Mặc dù Công ước được ký kết từ năm 1979 và có hiệu lực vào năm 1981 nhưng vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ như nam giới chỉ được thừa nhận trên lý thuyết. Mãi đến năm 1993 - khoảng một thập kỷ sau các quốc gia mới chấp nhận và tuyên bố khẳng định các quyền của phụ nữ là quyền con người và là quyền “không thể chuyển nhượng, không thể tách rời" của con người.
Sự ghi nhận này đã góp phần hình thành nên sự toàn vẹn về quyền con người mà Liên hợp quốc đã đề cập trước đó (Tuyên bố Viên và Chương trình hành động,1993, UN GAOR,). Để đảm bảo CEDAW được thực hiện quả, 6/10/1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc của CEDAW về Uỷ ban xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Uỷ ban này có nhiệm vụ xem xét các kháng thư của cá nhân và nhóm cá nhân khiếu nại về việc quyền lợi của họ hoặc của người họ dại diện bị quốc gia thành viên vi phạm. Nghị định thư này bắt đầu 19 z có hiệu lực từ ngày 22/12/2000.
Đến tháng 9/2005, Nghị định thư này đã có 72 quốc gia tham gia (hiện Việt Nam chưa tham gia). Nội dung các vấn đề pháp lý cơ bản của CEDAW trong lĩnh vực lao động: Đối với phụ nữ, quyền được tham gia bình đẳng như nam giới trong lĩnh vực lao động là một quyền thiết yếu và quan trọng. Với mục tiêu loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực lao động, CEDAW dành riêng điều 11 để quy định các nội dung này. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là: a.
Quyền được làm việc, một quyền không thể chối bỏ của mọi con người; b. Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, kể cả việc áp dụng những tiêu chuẩn như nhau khi tuyển dụng lao động; c. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm, quyền được thăng chức, bảo đảm việc làm, mọi phúc lợi và điều kiện làm việc và quyền được theo học những chương trình đào tạo và bổ túc nghiệp vụ, kể cả các lớp dạy nghề, các lớp nghiệp vụ cao cấp và lớp đào tạo định kỳ; d. Quyền được hưởng thù lao như nhau, kể cả các phúc lợi, và được đối xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau, cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc; e.
Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp về hưu, thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, tuổi già và các tình trạng mất khả năng lao động khác, cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương; f. Quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ. Nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hôn nhân hay sinh đẻ, để bảo đảm thực sự cho phụ nữ có quyền làm việc, các nước tham gia Công ước phải áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm: 20 z a. Ngăn chặn và trừng phạt trong trường hợp xảy ra việc sa thải phụ nữ với lý do có thai hay nghỉ đẻ và sa thải phụ nữ vì lý do hôn nhân; b.
Áp dụng chế độ nghỉ đẻ vẫn hưởng lương hoặc được hưởng các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc làm cũ, mất thâm niên, hay các phụ cấp xã hội; c. Khuyến khích việc cung cấp những dịch vụ xã hội cần thiết hỗ trợ cho các bậc cha mẹ để họ có thể kết hợp các nghĩa vụ gia đình với trách nhiệm công tác và tham gia sinh hoạt xã hội, đặc biệt bằng cách đẩy mạnh việc thiết lập và phát triển hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo; d. Đảm bảo một sự bảo vệ đặc biệt đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai trong những loại công việc có hại cho họ. Các quy định pháp lý về việc bảo vệ liên quan đến những vấn đề được đề cập trong điều này phải được xem xét lại theo định kỳ dưới ánh sáng của các kiến thức khoa học và kỹ thuật và phải được sửa đổi, huỷ bỏ hoặc mở rộng nếu cần thiết." Ngoài các quy định trên, Uỷ ban CEDAW cũng đưa ra những khuyến nghị liên quan tới lĩnh vực này như: Đề nghị phê chuẩn Công ước 100 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc thực thi nguyên tắc trả công bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau (Khuyến nghị chung số 13); Quốc gia có nghĩa vụ tiến hành các bước bảo vệ an sinh và phúc lợi xã hội cho phụ nữ đang làm ở các xí nghiệp tư nhân (Khuyến nghị chung số 16); Xác định quấy rối tình dục là một hình thức phân biệt đối xử về giới ở nơi làm việc và công nhận rằng nó sẽ làm giảm sự bình đẳng của phụ nữ trong việc làm.
Khuyến nghị đặc biệt đề xuất tới các cơ hội đào tạo và việc làm, giám sát các điều kiện của công nhân nội địa để bảo vệ phụ nữ khỏi hình thức bạo lực này (Điều khoản 17, 18, 24 mục p- Khuyến nghị chung số 19). Để đảm bảo cho phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền nêu trên, Công ước CEDAW đã quy định ba nguyên tắc cơ bản, đó là: bình đẳng, không phân biệt đối xử và nghĩa vụ quốc gia. Ba nguyên tắc tạo 21 z thành “hình lăng trụ” về quyền con người của phụ nữ, đưa ra các lăng kính mà qua đó tất cả các khía cạnh của phân biệt đối xử giới phải bị chất vấn và điều chỉnh theo hướng tích cực. Nguyên tắc bình đẳng không chỉ đơn giản là quan tâm tới đối xử bình đẳng trong luật mà còn là bình đẳng về mặt tác động thực tế của luật.
Bình đẳng thực sự phải tính đến và tập trung vào tính đa dạng, sự khác biệt, bất lợi và phân biệt đối xử đối với một giới. Cách tiếp cận này công nhận sự khác biệt giữa nam và nữ -nhưng thay vì chấp nhận sự khác biệt đó nó còn phải xem xét những bất lợi của sự khác biệt này và tìm ra các biện pháp đặc biệt để tạo sự bình đẳng về cơ hội cho hai giới nam và nữ. Mục đích chính của nguyên tắc này là nhằm điều chỉnh sự mất cân bằng về kết quả thụ hưởng thông qua việc đảm bảo các cơ hội tiếp cận và thụ hưởng bình đẳng cho một giới. Nguyên tắc không phân biệt đối xử thường được sử dụng trong các điều ước về nhân quyền.
VD: Điều ước quốc tế về quyền Dân sự và chính trị có quy định cấm phân biệt giới tính trong việc hưởng thụ quyền con người. Nguyên tắc không phân biệt đối xử sẽ hỗ trợ cho việc công nhận, hưởng thụ và thực thi bình đẳng của các quyền cho mọi đối tượng. Công ước CEDAW đưa ra định nghĩa toàn diện hơn về phân biệt đối xử. Điều 1 quy định cụ thể: "Phân biệt đối xử với phụ nữ" có nghĩa là bất kỳ sự đối xử khác nhau, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào.