Đặt vấn đề Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS). Theo báo cáo ngành thủy sản năm 2013, sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong suốt 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Theo thống kê của Tổng cục Thủy Sản năm 2016, Diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt năm 2015 của Việt Nam khoảng 450 nghìn ha, sản lượng khoảng 2.413 nghìn tấn, chiếm 36,79% tổng sản lượng thủy sản, trong đó chủ yếu là một số đối tượng như cá Tra, Rô Phi, Tôm càng xanh và các loài cá truyền thống.
Trong các loài cá nuôi truyền thống, Cá Trắm đen là loài cá nước ngọt đặc sản có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon có hàm lượng dinh dưỡng rất cao nên được nhiều người ưa chuộng. Trong y học, thịt cá Trắm đen có tính bình, vị ngọt, có rất nhiều tác dụng như chữa đau dạ dày mãn tính, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp, sưng đau, nâng cao sức đề kháng, tăng cường miễn dịch (Phó Thu Hương, 2006) [6], người Trung Quốc thường sử dụng cá Trắm đen như một vị thuốc quý (Nico và cs. Mật cá Trắm đen cũng là dược liệu quý chữa mờ mắt, mắt đỏ kéo màng, đau họng, tắc họng, trẻ con đờm dãi tắc (sách cây thuốc, bài thuốc và biệt dược, nhà xuất bản Y học). Vì vậy, để hiểu biết thêm về nuôi trồng thủy sản và khả năng thích nghi sinh trưởng của cá Trắm đen tại Thái Nguyên, tôi xin tiến hành thực hiện 2 chuyên đề: Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus), tại hợp tác xã thủy sản Núi Cốc, Thái Nguyên” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Nắm được phương pháp nghiên cứu nuôi thương phẩm cá Trắm đen trong lồng. - Theo dõi tốc độ sinh trưởng, tỉ lệ sống, môi trường nuôi cá Trắm đen, tại Hồ Núi Cốc 1. Yêu cầu của đề tài - Vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tiễn sản xuất đồng thời học tập bổ sung thêm những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất.
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp người chăn nuôi có biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cá trắm đen. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung Du Miền Núi Bắc Bộ (TDMNBB), có diện tích tự nhiên 353. Thái Nguyên có 6 huyện, 2 thành phố và 1 thị xã: - Phía Bắc giáp với Bắc Kạn - Phía Tây giáp với Vĩnh Phúc và Tuyên Quang - Phía Đông giáp với Lạng Sơn - Phía Nam giáp với Thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Giang. Với vị trí địa lý như vậy, Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng TDMNBB và là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng TDMNBB với vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH). Vị trí này đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế vùng TDMNBB thuận lợi cho việc giao lưu, tiêu thụ nông sản hàng hóa.
Địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi dốc, đặc biệt là khu vực phía Bắc, có nhiều sông, suối nhỏ thuộc hệ thống sông Cầu và sông Công. Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của tổng cục khí tượng thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng nóng nhất (28,9 oC- tháng 6) với tháng lạnh 4 nhất (15,2 oC- tháng 1) là 13,7 oC.
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1. Tổng tích ôn vượt 7.500 oC, thời kỳ lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 18 oC) chỉ trong 3 tháng. Với lượng mưa khá lớn, trung bình 1.500 mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian.
Theo không gian lượng mưa tập trung nhiều ở TP. Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện Võ Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn. Theo thời gian, lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm và vì vậy thường gây ra những trận lũ lụt lớn làm ảnh hưởng không nhỏ tới nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Thái Nguyên không có nhiều hồ, trong đó Hồ Núi Cốc là hồ nổi bật, đây là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công.
Hồ có độ sâu 35m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông cầu và du lịch. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia. Đặc điểm Hồ Núi Cốc Hồ Núi Cốc là tên một hồ nước ngọt nhân tạo tại tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Hồ nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 16 km về phía tây, được tạo nên sau khi đập ngăn sông Công được xây dựng trong các năm 1973 đến 1982. Hồ có diện tích mặt nước trung bình 25 km², ở thời điểm lũ tối đa là 32 km²; độ sâu 46,2 m, thời điểm cường lũ tối đa là dung tích toàn bộ 175,5 – 200 triệu m³, dung tích hữu ích 168 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm các mục đích: 5 • Cung cấp nước tưới cho 12. • Cấp 40-70 triệu m³ nước mỗi năm cho công nghiệp • Giảm nhẹ lũ hạ lưu sông Cầu.
• Đáp ứng dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng và nuôi cá. Cải thiện môi trường. Trong một số năm hạn hán, Hồ Núi Cốc còn còn tiếp nước cho hệ thống thủy nông Sông Cầu (Bắc Giang) khoảng 30 triệu đến 50 triệu mét khối/năm. Hệ thống thủy lợi Hồ Núi Cốc cũng có tác dụng cắt lũ cho vùng hạ lưu sông Công.
Hồ gồm một đập chính dài 480 m và 7 đập phụ. Mặt hồ rộng mênh mông với hơn 89 hòn đảo lớn nhỏ: đảo rừng xanh, đảo cò, đảo dê. Nước trong hồ đã được thu mẫu phân tích và được đánh giá là nguồn nước sạch và rất thích hợp để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lồng. Lý do là xung quanh Hồ Núi Cốc là rừng núi và các hòn đảo, nhà dân xung quanh hồ thưa, không có nhiều nên ít chịu ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt, và chưa có các công ty công nghiệp hoạt động gần khu vực nên nguồn nước vẫn giữ được chất lượng rất tốt.
Hiện nay tại Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên đang cho triển khai dự án nuôi trai lấy ngọc và tăng cường phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm tận dụng điều kiện thuận lợi hiện có của Hồ Núi Cốc. Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Hợp tác xã bắt đầu hoạt động từ tháng 10/2016 đến nay hợp tác xã đã hoạt động được gần 2 năm. Bao gồm 8 thành viên. Hoạt động HTX trong lĩnh vực thủy sản bao gồm sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác và hoạt động kinh doanh dịch vụ thủy sản.
6 Hiện tại HTX bao gồm 18 lồng nuôi cá thương phẩm, 2 lồng phục vụ cho sản xuất giống, 200 m3 bể xây, một nhà điều hành, 1 nhà kho, các trang thiết bị phục vụ khác. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở Đối tượng sản xuất chủ yếu của HTX là sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá đặc sản. Sản xuất giống các loại cá như cá Chiên, Lăng Chấm, Bỗng, Anh vũ và nuôi thương phẩm cá Chiên, Lăng Chấm, Bỗng, Chép, Rô phi. HTX đang nuôi thử nghiệm trai ngọc nước ngọt với số lượng trên 10.
Cơ sở khoa học của chuyên đề 2.1 Đặc điểm sinh học 2. Đặc điểm sinh học của cá trắm đen Nguồn gốc và phân bố Tên chính thức của cá trắm đen : Mylopharyngodon pineus (Richardson, 1846). Cá sống chủ yếu ở vùng hạ lưu và thường đẻ ở vùng trung lưu các sông lớn như sông Hồng, sông Thái bình, sông Mã, sông Lam; cá có nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Giới hạn thấp nhất của loài cá này là sông Lam -Nghệ An (Nguyễn Thái Tự, 1983) [12].
Trên thế giới: Cá trắm đen được phân bố ở những lưu vực Thái Bình Dương thuộc Đông Nam Á từ khu vực sông Amua tới phía đông Liên Xô và miền bắc Việt Nam nhưng chủ yếu phân bố ở Trung Quốc (Nico và cs. 7 Phân loại và đặc điểm hình thái cá trắm đen Phân loại cá trắm đen: Tên khoa học: Mylopharyngodon piceus Giới: Animalia Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Cypriniformes Họ: Cyprinidae * Đặc điểm hình thái cá trắm đen: Cá trắm đen: Thân dài, gần tròn, đầu vừa phải, phần cuống đuôi dẹp bên. Mắt bé so với đầu, ở hai bên đầu. Khoảng cách 2 ổ mắt rộng.
Miệng hướng về phía trước hình móng ngựa. Xương hàm trên và xương hàm dưới bằng nhau. Rãnh sau môi đứt quãng ở giữa. Lỗ mũi hơi lớn và gần mắt hơn mõm.
Màng mang rộng liền với eo. Lược mang thưa ngắn. Răng hình cối nghiền. Vây lưng có khởi điểm tương đương với khởi điểm vây bụng, gần gốc vây đuôi hơn mút mõm, viền sau bằng hoặc hơi lồi.
Các vây đều không có gai cứng. Vây ngực chưa đạt tới vây bụng. Vây bụng chưa đạt tới vây hậu môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ bằng nhau.
Hậu môn nằm sát gốc vây hậu môn. Đường bên hoàn toàn đi vào giữa thân và giữa cán đuôi. Vẩy to, xếp chặt chẽ. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ, chỉ dài bằng 1/4 chiều dài vây bụng.
Bụng tròn, phủ vẩy. Đốt sống toàn thân 37 bóng hơi hai ngăn. Thân cá và các vây có màu xám đen, lưng đậm hơn bụng.1: Cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus) Đặc điểm sinh sản Cá thành thục sau 3 năm tuổi, cá đẻ trứng trôi nổi.