CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG LINH KIỆN CƠ KHÍ. Các khái niệm cơ bản 1. Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng.
Với sự thay dổi chóng mặt của thị trường, việc xác định được vai trò quan trọng của mỗi thành viên trong chuỗi cung ứng là rất quan trọng. Việc xác định được chức năng cũng như mối liên kết của mình sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh trên sân chơi của các doanh nghiệp. Có câu châm ngôn nói rằng: “ Kẻ nghiệp dư bàn chiến lược, người chuyên nghiệp nói về hậu cần”, dù hiến lược cũng như tầm nhìn có vĩ mô như thế nào nhưng việc không hiệu rõ quá trình xâu chuỗi, đáp ứng như cầu của mỗi thành viên trong chuỗi cũng ứng, có thể coi như thất bại trong thị trường gay gắt như thế này. Hiểu nôm na, chuỗi cung ứng bao gồm các công ty và những hoạt động kinh doanh cần thiết để thiết kế, sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ.
Các doanh nghiệp phụ thuộc vào chuỗi cung ứng để nhận được những thứ cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và đảm bảo cho sự phát triển thịnh vượng của mình. Mỗi doanh nghiệp thích hợp với một hoặc nhiều chuỗi cung ứng và đóng vai trò nhất định trong từng chuỗi cung ứng. Theo Ganeshan và Harrison (Ganeshan, Ram và Terry P.Harrison, 1995): Chuỗi cung ứng là mạng lưới các nhà xưởng và những lựa chọn phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển những vật liệu này thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối thành phẩm này đến các khách hàng. Nếu xem xét từng mặt cụ thể trong chuỗi cung ứng thì thường có sự mâu thuẫn, đơn giản như việc doanh nghiệp muốn tạo mức độ dịch vụ chăm sóc khách hàng ở mức độ tốt nhất đồi hỏi việc hàng trong kho của doanh nghiệp luôn phải có số lượng nhiều, nhưng trái với việc để vận hành doanh nghiệp một cách hiệu quả, doanh nghiệp buộc phải giảm thiểu số lượng hàng trong kho.
Khi cân đối được sự hài hòa doanh nghiệp sẽ tìm được sự cân bằng trong kinh doanh. Để hình dung rõ hơn về Quản trị Chuỗi cung ứng, ta có được những khái niệm cần tham khảo: Theo Giáo trình Quản trị hậu cần, 2012, Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc dân: Quản trị chuỗi cung ứng là sự tích hợp của các hoạt động từ việc thu mua nguyên vật 6 Luan van liệu và dịch vụ, chuyển hóa chúng thành hàng hóa trung gian và thành sản phẩm cuối cùng, rồi cung cấp cho khách hàng. Những hoạt động này bao gồm các hoạt động thu mua và thuê ngoài, cộng thêm một số chức năng khác tạo ra tầm quan trọng trong quan hệ với nhà cung ưng và nhà phân phối. Mục tiêu là xây dựng chuỗi cung ứng mà ở đó tập trung đối đa hóa giá trị cho khách hàng.
Nói tóm lại, việc Quản trị chuỗi cung ứng là việc kết hợp các chức năng, vai trò, hoạt động của các thành viên tham gia vào chuỗi cung ứng từ khâu nhập nguyên vật liệu cho đến khi sản phẩm của khách hàng hết vòng đời chức năng, nhằm đem những giá trị tốt nhất mà các thành viên trong chuỗi cung ứng mong muốn hướng tới thông qua sản phẩm cũng như dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Vai trò và vị trị của chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp 90% các CEO trên thế giới đều đặt việc quản trị chuỗi cung ứng lên hàng đầu khi mà việc cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng cao, giá bán trên thị trường và giá thu mua nguồn cung cấp hàng hóa ngày càng bị siết chặt. Chuỗi cung ứng có sức tác động lớn sẽ chiếm lĩnh thị trường và sự tín nhiệm của khách hàng, tạo nên giá trị cổ đông, mở rộng chiến lược và khả năng vươn xa cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, trong môi trường kinh doanh hiện nay, chuỗi cung ứng là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Nhờ có chuỗi cung ứng hiệu quả các tập đoàn lớn đã đạt lợi nhuận cao hơn từ 4-6% so với đối thủ. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả có thể mang lại: - Chi phí cho chuỗi cung ứng giảm từ 25 – 50%. - Lượng hàng tồn kho giảm từ 25 – 60%. - Độ chính xác trong việc dự báo sản xuất tăng từ 25 – 80%.
- Cải thiện vòng cung ứng đơn hàng từ 30 – 50%. - Tăng lợi nhuận sau thuế lên đến 20%. Các thành viên của chuỗi cung ứng. Nhà sản xuất.
Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm. Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất nguyên vật liệu và những công ty sản xuất thành phẩm. Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ… và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thủy hải sản. Các nhà sản 7 Luan van xuất thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu và bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác.
Nhà sản xuất có thể tạo ra những sản phẩm vô hình như âm nhạc, trò chơi giải trí, phần mềm hay những thiết kế. Trào lưu phổ biến hiện nay là các nhà sản xuất loại sản phẩm công nghiệp hữu hính đang di chuyển sang những khu vực có chi phí nhân công rẻ hơn trên thế giới. Ngày càng nhiều nhà sản xuất tại các quốc gia phát triển như Bắc Mỹ, Châu Âu và một vài khu vực Châu Á tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ vô hính. Nhà phân phối.
Nhà phân phối là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối sản phẩm đến khách hàng. Nhà phân phối cũng được xem là nhà bán sỉ. Nhà phân phối bán sản phẩm cho những nhà kinh doanh khác với số lượng lớn hơn so với khách hàng mua lẻ. Do sự biến động nhu cầu sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa, thực hiện bán hàng và phục vụ khách hàng.
Nhà phân phối thực hiện chức năng “Thời gian và địa điểm” cho khách hàng bằng cách giao hàng mọi lúc và mọi nơi mà khách hàng yêu cầu Một nhà phân phối điển hình là một tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn kho mua từ nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dung. Ngoài khuyến mãi sản phẩm và bán hàng, có những chức năng khác mà nhà phân phối phải thực hiện và quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng. Nhà phân phối cũng là một tổ chức chỉ đại diện bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở hữu sản phẩm đó. Loại nhà phân phối này thực hiện chức năng chính yếu là khuyến mãi và bán thành phẩm.
Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối là đại lý nắm bắt liên tục nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng mua sản phẩm từ các công ty sản xuất. Nhà bán lẻ tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn. Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cững nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng rất chi tiết. Do nỗ lực chính là thu hút khách hàng đối với nhưng sản phẩm mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số kỹ thuật kêt hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm.
Khách hàng Khách hàng hay người tiêu dung là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm. Khách hàng là tổ chức có thể mua một sản phẩm để kêt hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sửu dụng sản phẩm sau/ mua sản phẩm về tiêu dung. Nhà cung cấp dịch vụ Đó là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn và kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng.
Chính vì thế, họ có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn và với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dung làm điều này. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ nhà kho. Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần. Nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính cung cấp cho các dịch vụ như cho vay, phân tích tín dụng và thu các khoản nợ đáo hạn.
Đó chính là ngân hàng, công ty định giá tín dụng và công ty thu nợ. Một số nhà cung cấp thực hiện nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý và tư vấn quản lý,… Chuỗi cung ứng tập hợp các thành viên có mỗi liên hệ mật thiết với nhau và được chia thành một hoặc nhiều phân nhóm. Nhìn chung, những nhu cầu của chuỗi cung ưng vẫn tương đối ổn định theo thời gian. Duy chỉ có mỗi quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng là thay đổi.
Một số chuỗi cung ứng có rất ít nhà cung cấp dịch vụ vì những thành viên khác tự mình đảm nhận luôn trách nhiệm đó. Trong khi số khác lại có nhiều nhà cung cấp dịch vụ chuyên biệt vô cùng xuất sắc và được các thành viên khác trong chuỗi cung ứng thuê lại. Phạm vi chuỗi cung ứng. Với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường hiện nay, các doanh nghiệp đều phải tìm ra cho mình những chiến lược riêng trong bước đi tiếp cận khách hàng bằng việc: mỗi một tổ chức sẽ cố gắng tối đa hóa năng suất hoạt động của những bộ phận này nhờ kết hợp giữa thuê ngoài, hợp tác kinh doanh và tham khảo ý kiến chuyên môn trong 9 Luan van nội bộ doanh nghiệp.
Nó được thể hiện rõ nhất thông qua việc các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng, không ngừng tìm cách nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng của mình. Theo như thực tế thì không phải lúc nào cũng thế, với những thị trường có sự thay đổi chậm chạp trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, nếu muốn thành công, các doanh nghiệp phải nỗ lực thâu tóm gần như toàn bộ chuỗi cung ứng. Người ta gọi đó là hiện tượng kết hợp theo chiều dọc.