PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xuất khẩu lao động và chuyên gia được Đảng và Nhà nước ta xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng, là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm. Chỉ thị 41/CT-TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xuất khẩu lao động (XKLĐ) và chuyên gia đã nêu rõ: “Cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Trong những năm qua, hoạt động XKLĐ đã thu được một số kết quả quan trọng, góp phần tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống cho một bộ phận người lao động.
Có được những kết quả đó, bên cạnh không ngừng hoàn thiện các yếu tố cơ chế, chính sách vĩ mô thì quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ đã góp phần rất lớn. Do vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động XKLĐ của cả nước nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng, thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu chính là công tác quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp. Đây là cơ sở để các doanh nghiệp chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia vào quá trình XKLĐ nhằm tăng tính cạnh tranh XKLĐ của Việt Nam, đồng thời giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong lĩnh vực XKLĐ. Hà Nội là một trong các thành phố lớn của Việt Nam, là nơi có số doanh nghiệp XKLĐ chiếm tỷ lệ cao nhất, năm 2012 Hà Nội có 93/167 doanh nghiệp XKLĐ của cả nước (chiếm 55,7%), năm 2013 Hà Nội có 112/178 doanh nghiệp XKLĐ của cả nước (chiếm 62,9%) (Cục Quản lý lao động ngoài nước, 2013a).
Tuy nhiên, cũng giống như tình trạng chung của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam, hiệu quả quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay còn thấp, các chính sách quản lý còn bộc lộ nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp còn lúng túng, bị động, chưa phát huy được đầy đủ vai trò của quản lý hoạt động XKLĐ. Dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao, chưa đem lại lợi 1 ích thiết thực về kinh tế cho doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Những yếu kém trong quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp ở Hà Nội đã làm cho tổng số vụ việc phát sinh của lao động khi làm việc ở nước ngoài cao khoảng 10% (như đình công, tuyên truyền xấu, vi phạm kỷ luật lao động, trốn ra ngoài,…); hiệu quả làm việc của lao động xuất khẩu cũng bị hạn chế do yếu ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, sức khỏe,… và do đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động XKLĐ.
Cho đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý hoạt động XKLĐ, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý Nhà nước về XKLĐ. Nội dung quản lý hoạt động XKLĐ tại doanh nghiệp chưa có đề tài nào đề cập một cách có hệ thống từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra - giám sát, đánh giá - điều chỉnh. Đặc biệt, chưa có đề tài nào nghiên cứu quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” để nghiên cứu nhằm phân tích rõ thực trạng, tìm ra các nguyên nhân yếu kém trong công tác quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ; - Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội; Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội; 2 - Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cơ chế, chính sách và các nội dung của quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý hoạt động XKLĐ trực tiếp ra nước ngoài (đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài) tại các doanh nghiệp XKLĐ.
Đề tài tập trung vào việc nâng cao năng lực quản lý hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ, không đi sâu vào quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp này. - Về không gian, nghiên cứu thu thập thông tin ở 40 doanh nghiệp XKLĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Về thời gian, số liệu và thông tin phản ánh trong nghiên cứu chủ yếu giai đoạn 2005 đến 2013. Những đóng góp mới của luận án - Luận án đã làm sáng tỏ được cơ sở lý luận, thực tiễn và khung lý thuyết về quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động; Làm rõ các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp.
- Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội theo các nội dung; lập kế hoạch xuất khẩu lao động, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá điều chỉnh; Phân tích và đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng theo đến quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. 3 - Luận án đã đề xuất 6 nhóm giải pháp tăng cường quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm tăng cường hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp. Luận án cũng đã đưa ra các khuyến nghị đối với thành phố Hà Nội, với doanh nghiệp và với người lao động để tăng cường quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.
Các khái niệm - Xuất khẩu: Việc mua bán hàng hóa, dịch vụ của quốc gia này cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền để thanh toán được gọi là xuất khẩu. Mục đích của xuất khẩu là khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Dựa trên cơ sở là sự phát triển hoạt động mua bán hàng hóa trong nước, xuất khẩu đã và đang diễn ra mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, dưới mọi hình thức với mục tiêu nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Lê Văn Tùng, 2003). - Lao động: Theo từ điển tiếng Việt, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội (Viện Ngôn ngữ học, 2006).
Theo Nguyễn Văn Hảo và cs. (2008), lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Như vậy, lao động chính là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp với mục đích nhất định của con người. Lao động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh (Nguyễn Tiệp, 2007).
- Xuất khẩu lao động: Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người (Đặng Đình Đào, 2005). 5 Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì “XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động”. Xét theo hướng tiếp cận của nội dung nghiên cứu này, khái niệm xuất khẩu lao động có thể được khái quát như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động. - Quản lý: Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất (Nguyễn Tiệp, 2011). Điều này đã được nhiều nhà khoa học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản lý là một quá trình làm cho những hành động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác”.