Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý, nâng cao năng lực xây dựng môi trường giáo dục theo hướng phòng, chống bạo lực học đường tại trường tiểu học và trung học cơ sở. Thực trạng quản lý, nâng cao năng lực xây dựng môi trường giáo dục theo hướng phòng, chống bạo lực học đường tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Biện pháp quản lý, nâng cao năng lực xây dựng môi trường giáo dục theo hướng phòng chống bạo lực học đường tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC THEO HƢỚNG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƢỜNG TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. ác nghiên cứu v ph ng chống ạo lực học đường Bạo lực học đường không phải là câu chuyện mới, thời gian gần đây nó trở thành đề tài được nhiều phụ huynh trên thế giới quan tâm khi mạng xã hội góp phần “phát tán” nhanh hơn những đoạn clips các học sinh ẩu đả, hiếp đáp lẫn nhau. Bạo lực học đường đang trở thành vấn nạn tại nhiều quốc gia.
Tác giả Mushinski M (1994), với nghiên cứu: “Bạo lực trong các trường công lập của Mỹ” đã chỉ ra thực trạng hành vi bạo lực, nhận thức của giáo viên, học sinh và các quan chức thực thi pháp luật về tình trạng bạo lực học đường trong các trường học. Những người tham gia khảo sát công nhận bạo lực là một vấn đề trong các trường học, tuy nhiên sự cảm nhận về tầm quan trọng của vấn đề phòng chống bạo lực học đường lại có sự khác nhau giữa các nhóm [34]. Một công trình nghiên cứu của Glew GM và các cộng sự tiến hành năm 2005 trên 3530 học sinh lớp ba, lớp bốn, lớp năm ở trường tiểu học tại Mỹ với đề tài: “Bắt nạt, tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học” với mục tiêu xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan hành vi bắt nạt với nhà trường, thành tích học tập, hành động kỷ luật và cảm giác của bản thân: buồn, an toàn, phụ thuộc. Kết quả nghiên cứu cho thấy 23% trẻ em được khảo sát đã từng tham gia bắt nạt, hoặc đã từng là người bị bắt nạt, nạn nhân hoặc cả hai.
Nạn nhân và người bắt nạt nạn nhân có thành tích học tập thấp hơn so với những người ngoài cuộc. Tất cả 3 nhóm nêu trên đều có cảm giác không an toàn khi ở trường học so với những đứa trẻ khác ngoài cuộc. Nạn nhân và người bắt nạt nạn nhân cho biết, họ thường cảm thấy buồn bã nhiều hơn so với những đứa trẻ bình thường Họ cảm thấy rằng họ không thuộc về trường học. Những kẻ bắt nạt và nạn nhân của hành vi bắt nạt chủ yếu là nam giới.
Tác giả đưa ra kết luận: tỷ lệ bắt nạt thường xuyên của các học sinh tiểu học là đáng nể. Đồng thời, mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt đã chỉ ra rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng trong trường tiểu học. Các nghiên cứu được trình bày trong tài liệu này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình giảng dạy chống bạo lực học đường [21]. 6 Ở Việt Nam những năm gần đây hiện tượng bạo lực học đường ngày càng gia tăng và lan rộng trong các trường học.
Theo kết quả nghiên Nguyễn Hải Toàn (2021), khi thực hiện khảo sát đối với 300 học sinh của 7 trường Tiểu học, trung học phổ thông ở Hà Nội cho thấy, có khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong thời gian nghiên cứu. Trong đó, bạo lực tinh thần ( sỉ nhục, đe dọa, bắt nạt, mắng chửi, bắt phạt, đặt điều…) chiếm tỷ lệ cao nhất là 73%, bạo lực thể chất (xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập, tát, đá …) chiếm 41%; và bạo lực tình dục (sờ, hôn, tin nhắn với nội dung tình dục, hiếp dâm, lan truyền tin đồn tình dục, yêu cầu chạm vào bộ phận sinh dục, …) chiếm 19% [39]. Tác giả Nguyễn Thị Hà Tuyến (2017), với luận văn “Nhận thức và biểu hiện hành vi bạo lực học đường của học sinh THPT thành phố Vinh - Tỉnh Nghệ An”, Trường Đại học sư phạm - Đại học Huế đã nghiên cứu trên cơ sở 300 bảng hỏi về thực trạng nhận thức những biểu hiện hiện nay của BLHĐ, qua đó tác giả đã xác định được những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này nhằm đề xuất được các biện pháp phù hợp nhằm tăng cường nhận thức của các bên liên quan về công tác này trong thời gian tới [52]. Tác giả Mạc Văn Trang (2021) một trong những chuyên gia đầu ngành liên quan đến tâm lý học đường trong một nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: Hệ thống pháp luật, kỷ luật không nghiêm minh, quy định trách nhiệm trong quản lý từ trên xuống dưới không rõ ràng, không cụ thể, nên hiệu quả công vụ, trách nhiệm với nghề thấp.
Dưới góc độ ứng xử với HS vi phạm, tác giả phân tích: Những việc kiểm điểm, phê bình, khiển trách, đuổi học 1 tuần. rất ít có tác dụng vì chỉ là tác động bên ngoài. Đối với em bị hại càng khó khăn nặng nề không giải tỏa được những “uẩn khúc” qua khuyên bảo hay tham vấn hời hợt. qua đó đề xuất 04 biện pháp từ góc độ tâm lý giúp hạn chế BLHĐ: Nâng cao nhận thức cho học sinh và giáo viên về PC-BLHĐ; Đổi mới các hình thức tiếp nhận thông tin về PC-BLHĐ phù hợp với lứa tuổi và đặc tính của HS; Tạo kết nối thường xuyên giữa Nhà trường, gia đình và xã hội; Tăng cường giám sát thực hiện các biện pháp PC-BLHĐ trong Nhà trường [47].
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn (2022), sự ảnh hưởng của các loại sản phẩm được núp bóng dưới những trò chơi bạo lực gián tiếp hay trực tuyến, đó là những phim ảnh văn hoá một cách thô thiển, đó là sự kiểm soát lỏng lẻo của những cơ quan chức năng được tuồn vào bằng nhiều hình thức dẫn đến sự “rối nhiễu” hành vi 7 về mặt tâm lý. Đây là rối nhiễu hay lệch chuẩn hành vi với những chuẩn mực gây rối nhiễu mang tính chất tâm thần [41]. Nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan (2015), trong cuốn “Bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lí học” đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về bạo lực học đường, một số vấn đề lí luận cơ bản về bạo lực học đường, thực trạng một số khía cạnh tâm lí của bạo lực học đường và các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa hành vi bạo lực học đường nhưa đổi mới công tác truyền thông về PC-BLHĐ; tổ chức tập huấn và đẩy mạnh việc tiếp cận thông tin về các biểu hiện BLHĐ; xây dựng chế tài đủ mạnh để chấm dứt và bảo đảm đẩy lùi BLHĐ. Nhằm góp phần cung cấp cho các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh cũng như các đối tượng quan tâm khác trong xã hội các kỹ năng cơ bản để phòng chống có hiệu quả bạo lực học đường và tệ nạn xã hội, tác giả Lê Vân Anh và nhóm tác giả đã biên soạn bộ sách “Giáo dục kỹ năng phòng chống bạo lực học đường” cho cấp Tiểu học và Trung học phổ thông, qua đó giới thiệu đến người đọc những kỹ năng như quản trị cảm xúc, giải quyết xung đột, thuyết trình - thuyết phục.
Bộ sách trình bày cả lý luận và thực tiễn về tình trạng bạo lực học đường [14]. ác nghiên cứu v quản l x ựng m i trường giáo ục theo hướng ph ng chống ạo lực học đường Νgհiên cứս về môi trường ԁạy հọc pհải kể đến công trìnհ của Jean - Μarc Denօmme và Μaԁeleine Rօy về pհương pհáp sư pհạm tương tác. Trօng đó mô հìnհ qսen tհսộc: Νgười ԁạy - người հọc - tri tհức được cհսyển tհànհ: người ԁạy- người հọc-môi trường. Tác giả thấy môi trường là yếս tố tհam gia trực tiếp đến qսá trìnհ ԁạy հọc cհứ kհông đơn tհսần cհỉ là nơi ԁiễn ra các հօạt động dạy và հọc.
Đặc biệt tác giả đi sâս vàօ các yếս tố môi trường trong việc հọc và việc ԁạy. Trên cơ sở đó đã nհấn mạnհ đến một qսy lսật qսan trọng: môi trường ảnհ հưởng đến người ԁạy, người հọc; người հọc và người ԁạy pհải tհícհ ngհi với môi trường. Ảnհ հưởng và tհícհ ngհi đó cհínհ là հệ qսả của pհương pհáp sư pհạm tương tác liên qսan đến môi trường [58]. Năm 2005, UNESCO phối hợp với Bộ Giáo dục của Thái Lan cho ấn bản cuốn sách Các bước để trở thành một môi trường học tập thân thiện.
Thực chất trong nội dung các tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ tích cực giữa trẻ, gia đình, nhà trường và cộng đồng, trong đó mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường với cộng đồng có ý nghĩa quan trọng thể hiện mối quan hệ tích cực, gắn bó, vừa tạo sự an 8 toàn, vừa tạo tiền đề cho những kiến thức của trẻ sau khi tiếp thu được ở nhà trường tiếp tục được gia đình củng cố và được vận dụng trong các mối tương tác với xã hội (UNICEF, 1996). Song vấn đề quản lý mối quan hệ nhà trường, gia đình, xã hội trong việc xây ԁựng MTGD theo hướng PC-BLHĐ tích cực chưa được đặt ra một cách đầy đủ [57]. Nghiên cứu Tạo môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả: Kết quả đầu tiên từ khảo sát quốc tế về giảng dạy và học tập (Teaching and Learning International Survey - TALIS) của OECD năm 2009 cung cấp quan điểm so sánh quốc tế đầu tiên về các điều kiện dạy và học, cung cấp những hiểu biết sâu sắc về một số yếu tố ẩn sau sự khác biệt trong kết quả học tập mà Chương trình đánh giá học sinh quốc tế của OECD đã chỉ ra. Mục đích của nghiên cứu giúp các quốc gia xem xét và phát triển các chính sách để làm cho nghề dạy học hấp dẫn hơn và hiệu quả học tập tốt hơn.
Với trọng tâm là giáo dục trung học cơ sở ở cả khu vực công và tư, khảo sát về giảng dạy và học tập, kiểm tra các khía cạnh quan trọng của phát triển nghề nghiệp; niềm tin, thái độ và thực hành của giáo viên; đánh giá giáo viên và phản hồi, hướng đến sự thỏa mãn trong dạy và học ở trường trung học cơ sở, và làm thế nào để có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho người học.