CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa bạo lực Theo Tổ chức Y tế thế giới trong Báo cáo thế giới về bạo lực và sức khỏe “Bạo lực là việc cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc một nhóm người, cộng đồng, dẫn đến hậu quả hoặc nguy cơ dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hoặc gây ra các tổn hại khác” [64]. Như vậy theo định nghĩa này: Bạo lực bao gồm những hành vi bạo lực giữa các cá nhân cũng như hành vi tự tử và xung đột vũ trang. Nó bao gồm một loạt các hành vi, không chỉ là những hành vi thể chất mà còn bao gồm các mối đe dọa và đe dọa.
Ngoài tử vong và thương tật, bạo lực còn dẫn đến vô số những hậu quả không rõ ràng như tổn hại về tâm lý, thiếu thốn và kém phát triển, gây tổn hại đến phúc lợi của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Phân loại bạo lực Có nhiều cách phân loại bạo lực, tuy nhiên theo Báo cáo thế giới về bạo lực và sức khỏe năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới chia bạo lực ra làm 3 lĩnh vực chính tùy thuộc vào đặc điểm hành động của bạo lực [64], bao gồm: 1) Bạo lực tự thân 2) Bạo lực giữa các cá nhân 3) Bạo lực nhóm, tập thể Sự phân loại ban đầu dựa trên sự khác nhau giữa bạo lực của người tự gây ra cho chính mình hay gây ra bởi người khác, bởi một nhóm ít người hay bởi nhiều người như các tổ chức chính trị, tổ chức khủng bố, nhóm quân sự. Dưới 3 dạng bạo lực chính ở trên, mỗi loại bạo lực còn được chia nhỏ hơn phản ánh nhiều dạng bạo lực chi tiết hơn nữa. Bạo lực tự thân Bạo lực cá nhân được chia làm 2 dạng chính là hành vi tự sát và tự hành hạ bản thân.
Thể thứ nhất bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng chưa thành và tự sát thành công. Thể thứ hai là các hành động tự hành hạ bản thân 6 Bạo lực giữa các cá nhân: cũng chia làm hai thể Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này rất phổ biến giữa các thành viên trong gia đình và với đối tác quan hệ tình dục, thông thương (nhưng không phải luôn luôn) xảy ra trong nhà. Loại hình bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục và hành hạ người cao tuổi. Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ ruột thịt, có thể quen biết hoặc không quen biết nhau tr ước đây, thường xảy ra ở ngoài.
Loại hình bạo lực này bao gồm bạo lực ở giới trẻ, các hành động bạo lực ngẫu hứng, hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở, trại giam… Bạo lực tập thể: Không giống với 2 dạng bạo lực trên, các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõ ràng bởi số lượng lớn các cá nhân hoặc của một tổ chức nào đó. Thường là bạo lực của các nhóm lớn hơn như các quốc gia, nhóm dân quân và các tổ chức khủng bố để đạt được các mục tiêu chính trị, kinh tế hoặc xã hội. Chính vì hành động bạo lực này gây ra bởi nhiều cá nhân nên hình thức và diễn biến vô cùng phức tạp. Về bản chất hành vi bạo lực bao gồm: - Bạo lực thể chất - Bạo lực tình dục - Bạo lực tinh thần - Bỏ rơi/thiếu quan tâm Hình 1 dưới đây dưới đây mô tả các dạng bạo lực và bản chất của các hành vi bạo lực: 7 BẠO LỰC Bạo lực tự Bạo lực giữa Bạo lực thân các cá nhân tập thể Tự sát Hành hạ Gia đình/ Cộng Xã Chính Kinh bản thân đối tác đồng hội trị tế Trẻ Đối Người Ngườ Người em tác già i lạ quen Bản chất của hành vi bạo lực Thể chất Tình dục Tinh thần Bỏ rơi Hình 1: Các dạng bạo lực và bản chất của bạo lực 8 1.
Bạo lực học đường và phân loại bạo lực học đường 1. Khái niệm bạo lực học đường Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tại tờ thông tin năm 2015: Bạo lực học đường là một phần thuộc bạo lực giới trẻ, xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10-18 tuổi. Một số hành vi bạo lực bao gồm bắt nạt, tát, đánh – thường gây tổn hại về tâm lý nhiều hơn so với thể chất. Một số hình thức khác như bạo lực băng đảng và tấn công vũ lực (có hoặc không sử dụng vũ khí) có thể dẫn đến những chấn thương nghiêm trọng, thậm chí tử vong [23, 65].
Trường hợp bạo lực học đường: được định nghĩa là các hành vi bạo lực ở độ tuổi 10-18, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về nhà, và trong các hoạt động do nhà trường tổ chức [25]. Bắt nạt học đường: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinh với nhau. Các hành vi bắt nạt bao gồm từ các hành động bạo lực về thể chất (đá, xô đẩy) cho đến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa), và bạo lực tinh thần như gây lời đồn, xa lánh/cô lập [57]. Phân loại bạo lực học đường Trong khuôn khổ nghiên cứu này, bạo lực học đường được phân loại dựa trên phân loại của một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam [8, 61, 68].
Trong đó bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm sau: - Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một/một nhóm học sinh khác; - Bạo lực bằng lời nói: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình; - Bạo lực xã hội: bao gồm các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác; - Bạo lực điện tử: bao gồm các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, sử dụng email, ảnh cá nhân để uy hiếp, đe doạ, ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo 9 ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm học sinh khác. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm bạo lực học đường được hiểu là hành vi bạo lực giữa các học sinh/nhóm học sinh với nhau, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về hoặc trong các hoạt động do nhà trường tổ chức, bao gồm các hành vi được phân loại ở trên. Khái niệm này không đề cập đến hành vi bạo lực giữa giáo viên đối với học sinh và ngược lại. Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Bạo lực học đường trên thế giới Theo báo cáo về thực trạng phòng chống bạo lực năm 2014 của Tổ chức Y tế thế giới, số liệu được ghi nhận từ 133 quốc gia trên toàn thế giới cho thấy, trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 người trẻ tuổi từ 10-29 tuổi tử vong do bạo lực, đây là nguyên nhân tử vong đứng thứ tư trong nhóm tuổi này. Trong đó có đến 80% nạn nhân là nam giới. Đi đôi với mỗi vụ tử vong, nhiều trường hợp hơn nữa phải nhập viện điều trị do thương tích và việc điều trị cho các nạn nhân của bạo lực là gánh nặng lớn đối với hệ thống y tế. Ngoài cái tử vong và thương tích, bạo lực trong giới trẻ có thể dẫn đến những vấn đề về sức khoẻ tâm thần và làm gia tăng hành vi nguy cơ như hút thuốc lá, sử dụng rượu và ma túy và tình dục không an toàn.
Người thực hiện hành vi bạo lực và nạn nhân của bạo lực giới trẻ thường có một lịch sử lâu dài liên quan đến bạo lực, và nhiều người là nạn nhân của sự ngược đãi trẻ em [65]. Kết quả khảo sát về hành vi nguy cơ ở học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 tại Mỹ năm 2015 của CDC, có 7,8% học sinh cho biết đã từng tham gia đánh nhau, 20,2 % học sinh từng bị cướp đồ, 15,5% từng bị bạo lực điện tử trong vòng một năm qua, 4,1% học sinh từng mang vũ khí (sung, dao) đến trường trong vòng 1 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Đặc biệt có tới 5,6% học sinh cho biết đã không đi học một hoặc nhiều ngày trong vòng 1 tháng qua vì cảm thấy ở trường hoặc trên đường đến trường/từ trường về nhà không an toàn [37]. Một nghiên cứu trên quy mô quốc gia về bạo lực học đường quy mô quốc gia trên 5.939 học sinh của 121 trường THPT tại Nam Phi năm 2012 cho thấy, 22,2% học sinh cho biết đã bị từng bị đe doạ hoặc là nạn nhân của một cuộc tấn công, cướp 10 tài sản hoặc tấn công tình dục tại trường trong năm qua.
Trong đó 12,2% từng bị đe dọa bằng bạo lực, 6.3% từng bị tấn công, 4,7% từng bị tấn công tình dục hoặc cưỡng hiếp và 4,5% từng bị cướp ở trường [46]. Một nghiên cứu khác tiến hành trong nhóm học sinh THPT tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011 cũng cho kết quả tương tự khi một tỷ lệ rất cao (83%) học sinh trả lời từng liên quan đến các hành vi bạo lực trong trường học, trong đó, có 17% là nằm trong vòng quay của bạo lực (violence/bullying cycle) nghĩa là từng là nạn nhân của bạo lực và sau đó đi thực hiện hành vi bạo lực với các học sinh khác [49]. Nghiên cứu Qiao YJ và cộng sự năm 2010 khi tiến hành điều tra tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực thể chất trên 5.718 học sinh từ lớp 7 đến 12 tại Bắc Kinh cho thấy trong số học sinh tham gia nghiên cứu, thì có 14,3% học sinh cho rằng đã tham gia hành vi bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua [49]. Bạo lực học đường tại Việt Nam Theo báo cáo Thống kê của Vụ Công tác học sinh sinh viên, thống kê từ 38 Sở Giáo dục & Đào tạo gửi về Bộ, từ năm 2003 đến cuối năm 2010 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỷ luật.