ĐẶT VẤN ĐỀ Các hành vi nguy cơ ở vị thành niên, là nhóm tuổi từ 10-19, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và tàn tật ở nhóm tuổi này (1, 2). Bạo lực trong học đường (BLHĐ) tuy không phải vấn đề mới nhưng trong những năm gần đây, bạo lực trong nhóm học sinh phổ thông có chiều hướng diễn ra ngày càng tăng và phức tạp, trở thành mối quan ngại đối với cha mẹ, thầy cô và xã hội nói chung (3). Bạo lực không chỉ bao gồm hành đồng gây hại về thể chất mà còn sử dụng lời nói, mối quan hệ xã hội có chủ ý dẫn đến tổn hại về mặt tâm lý, phát triển của học sinh dẫn đến thiếu tự tin, mặc cảm, lo âu và trầm cảm (4, 5). Bạo lực có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng và thành tích học tập của học sinh (4).
Trên thế giới, có tới 50% trẻ em từ 2 đến 17 tuổi từng phải chịu một hình thức bạo lực (lạm dụng thể chất, tình dục hoặc tình cảm) trong năm 2019 - tương đương với 1 tỉ trẻ em từng bị bạo lực (3). Ở lứa tuổi vị thành niên, tử vong do nguyên nhân bạo lực chiếm 12% và nguyên nhân đứng thứ năm (6). Trẻ từ 15-19 tuổi có nguy cơ bị tổn thương và tử vong do bạo lực cao gấp 3 lần trẻ từ 10 đến 14 tuổi (7). Tại Mỹ, năm 2017, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ ước tính tỉ lệ học sinh tham gia vào ẩu đá, đánh nhau trong 12 tháng trước khảo sát là 23,6%, tham gia đánh nhau trong trường là 8,5%, bị bạo lực ở trường là 19% (8).
Đánh giá toàn cầu của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (United Nations Children’s Fund – UNICEF), về bạo lực đối với trẻ em được công bố vào năm 2017 trên thế giới hiện nay, cứ 7 phút lại có 1 thanh niên tử vong vì hành vi bạo lực, tính riêng năm 2015 bạo lực là nguyên nhân tử vong của 82.000 trẻ vị thành niên trên toàn thế giới (7). Theo báo cáo của WHO năm 2014, tử vong do nguyên nhân bạo lực chiếm 12% và nguyên nhân đứng thứ năm ở vị thành niên (6). Trẻ từ 15-19 tuổi có nguy cơ bị tổn thương và tử vong do bạo lực cao gấp 3 lần trẻ từ 10 đến 14 tuổi (7). Tại Việt Nam, theo báo cáo sơ bộ tháng 5/2018 của các cơ quan công an tại 63 tỉnh thành trên cả nước, thì từ năm 2010 đến nay đã có hơn 7.000 học sinh tham gia vào các sự việc đánh nhau, lôi kéo dọa đánh bạn và bị kỷ luật (9).
2 Những năm trở lại đây nghiên cứu về BLHĐ tại Việt Nam ở một số tỉnh thành phố đã cho thấy một phần nào thực trạng BLHĐ cũng như một số yếu tố liên quan đến hành vi này. Tuy vậy, vẫn còn ít nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng học sinh Trung học cơ sở (THCS) tại các tỉnh miền Nam. Gò Vấp là quận ven đô nằm ở Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Năm 2020, quận Gò Vấp có khoảng 680.000 dân với tổng diện tích 19,75 km².
Trên địa bàn Quận Gò Vấp hiện có 6 trường trung học cơ sở (THCS). Cho đến tháng 12 năm 2021, học sinh lớp 7-12 đã được đi học trực tiếp tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn TPHCM (10). Tại phường 13 quận Gò Vấp, Trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi được khánh thành và đi vào hoạt động từ năm 2011 theo quyết định của UBND quận Gò Vấp. Tình trạng bạo lực học đường trong nhóm học sinh có xu hướng gia tăng với số vụ ghi nhận được là 06 vụ vào năm 2019 và tăng lên 09 vụ vào năm 2020 (11).
Ngoài ra, sau khi đi học trở lại sau đại dịch COVID-19, số vụ BLHĐ đặc biệt là bạo lực trực tuyến có xu hướng tăng lên với 08 vụ trong tháng 12 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022. Vậy thực trạng BLHĐ hiện tại ở trường THCS Nguyễn Trãi ra sao? Đâu là yếu tố liên quan tới thực trạng này? Nghiên cứu sử dụng một bộ công cụ của Giám sát hành vi nguy cơ ở Thanh Thiếu Niên của Hoa Kỳ (YRBSS) có thể giúp chỉ ra thực trạng BLHĐ và so sánh với các địa bàn tương tự trong và ngoài nước (12). Vì thế, chúng tôi dự kiến triển khai nghiên cứu “Bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng bạo lực học đường của học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp năm 2022 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến bạo lực học đường của học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chính 1.
Bạo lực và phân loại bạo lực Bạo lực được WHO định nghĩa là "hành vi cố ý sử dụng vũ lực hoặc sức mạnh, đe dọa hoặc làm thật, chống lại chính mình, một người khác hoặc chống lại một nhóm hoặc cộng đồng, dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến hậu quả bị thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, phát triển hoặc các tổn hại khác (13)" Theo WHO, bạo lực được chia theo đặc điểm của những người thực hiện hành vi và nạn nhân của các hành vi bạo lực thành 3 loại (13): Bạo lực tự thân; Bạo lực giữa cá nhân và Bạo lực tập thể. Còn theo bản chất của bạo lực, WHO chia thành 4 loại là: bạo lực thể chất, bạo lực tình dục, bạo lực tinh thần và kỳ thị/phân biệt đối xử (13). Định nghĩa bạo lực học đường CDC Hoa Kỳ (2015) định nghĩa BLHĐ là “bạo lực thanh thiếu niên xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường đến trường, từ trường về nhà, hoặc trong các sự kiện do nhà trường tổ chức” (14). Tại Việt Nam, Chính phủ đưa ra khái niệm BLHĐ là “những hành vi lạm dụng và đánh đập, đe dọa đến sức khỏe và thể chất, nhạo báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, phân biệt đối xử, xa lánh và các hành vi có chủ định gây tổn hại đến sức khỏe và thể chất người học trong lớp hoặc trường (15)”.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khái niệm BLHĐ được sử dụng theo khái niệm của CDC Hoa Kỳ là “bạo lực giữa học sinh hay nhóm học sinh, hành vi bạo lực thực hiện trong khu vực trường học, trên đường tới trường hoặc từ trường về nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa mà nhà trường tổ chức. Phân loại và đối tượng bạo lực học đường BLHĐ được phân loại dựa trên tài liệu Phòng chống bạo lực của CDC Hoa Kỳ gồm (16): 5 Bạo lực về thể chất: là “bất kỳ hình thức nào xâm phạm thể xác với ý định làm tổn thương người khác bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, xé quần áo, trần lột, cướp đồ vật, gây ảnh hưởng đến thân thể của một/một nhóm học sinh khác”; Bạo lực về lời nói: là “lạm dụng lời nói và cảm xúc bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương, sỉ nhục, dùng lời nói đe dọa/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình”; Bạo lực xã hội: bao gồm “các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác”; Bạo lực điện tử: bao gồm “các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe dọa/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm học sinh khác…”; Bạo lực tác động tiêu cực đến tất cả thanh thiếu niên là nạn nhân (victims), những người có hành vi bạo lực người khác (perpetrators) và những người chứng kiến bạo lực (người ngoài cuộc) (witnesses). Hậu quả của Bạo lực học đường BLHĐ có ảnh hưởng nghiêm trọng và lâu dài đối với sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội của những người trẻ tuổi. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho những người trẻ tuổi và dẫn đến hơn 475.000 ca chấn thương không chủ đích mỗi năm (17).
Bạo lực có thể dẫn đến tổn thương về thể chất, tổn thương về xã hội và tinh thần, tự làm hại bản thân hoặc thậm chí là tử vong. Nó cũng làm tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu, khó ngủ, thành tích học tập kém và bỏ học. Thanh thiếu niên có hành vi bạo lực người khác có nguy cơ sử dụng chất gây nghiện, ảnh hưởng đến các vấn đề học tập và có xu hướng bạo lực sau này ở tuổi thiếu niên và trưởng thành. Những người tiếp xúc với bạo lực có nguy cơ gia tăng một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần, thể chất và hành vi bao gồm nạn nhân, người có hành vi bạo lực người khác (6).
Ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý và hành vi BLHĐ là yếu tố nguy cơ cao của các vấn đề sức khỏe tâm thần, các nạn nhân của BLHĐ dễ bị trầm cảm, tự kỉ, tự ti, lo lắng và cố gắng tự tử (18) (19). Bạo lực thể chất có thể gây ra chấn thương không tử vong hoặc tử vong, để lại những khuyết tật thể chất lâu dài (16). Bạo lực tình dục có nguy cơ lây truyền HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác và mang thai ngoài ý muốn. Ngoài ra tiếp xúc với bạo lực khi con trẻ có thể gây ra hậu quả tiêu cực về sức khỏe lâu dài (20).
Một nghiên cứu phân tích tổng hợp về Bắt nạt và hành vi tự tử đã chứng minh rằng có mối liên quan, không chỉ giữa nạn nhân bắt nạt và tự tự mà còn giữa người bắt nạt hoặc người vừa bị bắt nạt vừa đi bắt nạt người khác với tự tử (21). Tương tự với một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiên cứu theo chiều dọc cho thấy các nạn nhân của những vụ bắt nạt học đường có xu hướng bị trầm cảm sau này trong cuộc sống (22). Năm 2012, báo cáo của Liên Hợp Quốc cho rằng sức khỏe tinh thần và thể chất của học sinh bị bắt nạt có dấu hiệu nguy cơ trầm cảm hoặc gặp vấn đề ăn, ngủ hoặc các triệu chứng thực thể như đau đầu hoặc đau dạ dày (23). Bạo lực là một khía cạnh thiết yếu của hành vi rối loạn chức năng cho thanh thiếu niên, làm tăng các hành vi nguy cơ đến sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất kích thích, trầm cảm, bỏ học (24).