chương I, Luật giáo dục, 2005).2 Các nghiên cứu liên quan Trong phần này một số nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của học sinh trong và ngoài nước được lược khảo để thấy được các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh, từ đó rút ra những thông số quan trọng để ứng dụng trong đề tài.1 Nghiên cứu trên thế giới Mike et al (2008) nghiên cứu vấn đề bỏ học của học sinh ở Uganda sử dụng mô hình logistic với 4 nhóm biến số độc lập như sau: (1) Bản thân học sinh: tuổi học sinh, hoàn cảnh mồ côi, giới; (2) Đặc điểm chủ hộ: tuổi chủ hộ, giới, học vấn cha, học vấn mẹ, tình trạng hôn nhân của chủ hộ; (3) Đặc điểm hộ: số thành viên trong gia đình, tỷ lệ lao động chính, chi phí học tập; (4) Đặc điểm nơi ở: khoảng cách đến trường, nông thôn hay thành thị. Kết quả mô hình cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học của học sinh bao gồm: khoảng cách đến trường, giới tính học sinh, giới tính chủ hộ, chi phí học tập, học vấn phụ huynh, số thành viên trong gia đình, và tỷ lệ lao động chính. Đề tài chưa nghiên cứu về dân tộc, tôn giáo của học sinh. Burrus and Roberts (2012) nghiên cứu vấn đề bỏ học ở học sinh phổ thông trung học tại Mỹ cho thấy các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: gia đình có thu nhập thấp, học sinh nam, dân tộc thiểu số, lớn tuổi hơn các bạn cùng lớp, ít đến lớp, điểm học thấp, lớp học không thú vị, thiếu động lực đến trường, bài kiểm tra quá khó, trình độ giáo dục thấp của cha mẹ, chất lượng giáo viên thấp.
Đề tài chưa nghiên cứu đến học sinh nữ và khoảng cách từ nhà đến trường, thời gian làm việc của học sinh. Soares et al (2015) phát triển khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tỷ lệ bỏ học của học sinh phổ thông trong trường công lập tại Minas Gerais, Brazil bao gồm: (1) Trường học: chất lượng trường lớp, chất lượng giảng dạy; (2) Gia đình: học vấn cha mẹ, sự quan tâm, khuyến khích con cái từ gia đình; và (3) Học sinh: tuổi, giới tính, môn học khó, mong đợi trong tương lai như đi học bậc cao hơn hay cơ hội việc làm tốt hơn nếu tiếp tục đi học. Mwingirwa (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bỏ học cao trong trường phổ thông cơ sở ở Kenya đã phát triển khung nghiên cứu dựa vào 4 nhóm nhân tố: (1) Về trường lớp bao gồm khoảng cách đến trường, chất lượng giáo viên; (2) Yếu tố kinh tế gồm thu nhập cha mẹ, chi phí trực tiếp và gián tiếp trong 8 học tập; (3) Yếu tố gia đình gồm học vấn phụ huynh, loại gia đình, số thành viên gia đình; và (4) Bản thân học sinh gồm tuổi và giới tính.2 Nghiên cứu ở Việt Nam Benedict Mann và Đặng Thị Hải Thơ (2010) nghiên cứu về tình trạng bỏ học ở trẻ em Việt Nam từ 11-18 tuổi cho thấy có 4 nhóm nguyên nhân chính bao gồm: Nguyên nhân từ gia đình: kinh tế khó khăn, sống trong đói nghèo; trẻ sớm phải tham gia lao động để phụ giúp gia đình; gia đình không hạnh phúc, bố mẹ ly hôn hoặc bạo lực gia đình; Nhận thức chưa đầy đủ về giá trị của học tập đối với tương lai trẻ, đặc biệt với con gái; gia đình không có truyền thống hiếu học nên không khuyến khích trẻ tiếp tục đi học; gia đình luôn có người đau ốm, bệnh tật trẻ phải chăm sóc dẫn đến bỏ học. Nguyên nhân từ nhà trường: Chương trình giáo dục không thiết thực, ít phù hợp, đơn điệu, nghèo nàn; Chất lượng dạy học và phương pháp giảng dạy thiếu hấp dẫn; Mối quan hệ thầy trò ít thân mật, học trò kém chủ động và thiếu tự tin; xảy ra tình trạng bạo lực hoặc lạm dụng; thiếu cơ sở vật chất, cơ cấu quản lý trường học yếu kém; ngôn ngữ sử dụng không phù hợp với nhóm dân tộc ít người.
Nguyên nhân từ xã hội và cộng đồng: Mục tiêu giáo dục của chính phủ dựa vào số lượng hơn chất lượng; Tình trạng di cư ồ ạt, thiếu sự hỗ trợ và khích lệ từ cộng đồng cho nhóm trẻ chịu nhiều thiệt thòi; quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển chưa được nhận thức đúng mức ở một số quan chức địa phương; vai trò các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội chưa được phát huy đúng mức, công tác xã hội hóa giáo dục còn lúng túng, thiếu cơ chế phối hợp nên việc huy động trẻ em bỏ học đi học lại còn nhiều khó khăn, bất cập. Nguyên nhân từ bản thân trẻ: Xấu hổ vì các vấn đề của bản thân hoặc gia đình; không có thời gian dành cho học tập; thiếu kỷ luật, không đủ kiên nhẫn theo học; cảm thấy việc học quá buồn tẻ; kết quả học tập kém; sức khỏe kém, bệnh tật. Duc and Tam (2013) phân tích dựa trên bộ dữ liệu 3000 trẻ em ở Việt Nam để tìm hiểu vấn đề học sinh bỏ học sử dụng cả hai cách tiếp cận định tính (phỏng vấn) và định lượng (mô hình hồi quy logistic) cho thấy: Học lực yếu là nguyên nhân chính dẫn đến học sinh bỏ học Điều kiện kinh tế hộ, học vấn cha mẹ cũng giữ vai trò quan trọng Lý do thường xuyên nhất được các bậc phụ huynh đưa ra là thiếu sự quan tâm 9 Nhưng kết quả cũng chỉ ra rằng nghèo không phải là yếu tố quyết định của thiếu sự quan tâm mà các yếu tố khác như dân tộc thiểu số, học vấn của mẹ thấp lại quan trọng ảnh hưởng đến việc quan tâm học tập của con em họ. Phạm Công Hữu và Thạch Ngọc Tuấn (2016) cho rằng nguyên nhân bỏ học của học sinh Khmer ở Trà Vinh bao gồm hộ kinh tế khó khăn, không có động cơ học tập, học lực yếu kém, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, đầu tư giáo dục thấp, thiếu phương tiện học tập và sức khỏe yếu.
Sử dụng phương pháp phân tích hồi qui đa biến nhóm tác giả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến sự bỏ học của học sinh dân tộc Khmer là học vấn của cha và mẹ thấp, có nhiều lao động phụ thuộc, thu nhập thấp, tuổi của cha và mẹ cao, cha và mẹ phải đi làm ăn xa, tiếng Việt kém, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, và sức khỏe yếu. Ngô Hoàng Thảo Trang (2010) sử dụng mô hình logistic để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh dựa trên số liệu điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình 2006. Có 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng như sau: Tuổi của học sinh, số giờ làm việc của học sinh trong một năm, chi tiêu của hộ gia đình, học vấn cha mẹ dưới phổ thông cơ sở, học vấn của cha mẹ trên phổ thông cơ sở, học vấn cha mẹ cấp 3 trở lên, số con trong gia đình, tỷ lệ học sinh giảm xây dựng, tỷ lệ học sinh trên giáo viên, tỷ lệ học sinh trên lớp học, tỷ lệ lớp học có bảng đen tốt, vùng Miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long cũng là yếu tố ảnh hưởng đến học sinh bỏ học. Tóm lại, các nghiên cứu trên cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh có thể nhóm lại thành 4 nhóm chính như sau: Phía học sinh: Giới, tuổi, tham gia lao động, điểm học tập Phía gia đình: Tuổi cha mẹ, học vấn cha mẹ, thu nhập, sự quan tâm, số thành viên trong gia đình, số con trong hộ Phía nhà trường: Chất lượng trường lớp, số lượng và chất lượng giáo viên, ngôn ngữ dạy học, chi phí học tập Phía cộng đồng, xã hội: Vùng miền, khoảng cách đến trường, chính sách giáo dục, dân tộc 12 Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.
Khung phân tích Như đã đề cập ở Chương 2, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc bỏ học của học sinh có thể chia thành 4 nhóm yếu tố tác động như: (1) Phía học sinh: Giới, tuổi, tham gia lao động, điểm học tập; (2) Phía gia đình: Tuổi cha mẹ, học vấn cha mẹ, thu nhập, sự quan tâm, số thành viên trong gia đình, số con trong hộ; (3) Phía nhà trường: Chất lượng trường lớp, số lượng và chất lượng giáo viên, ngôn ngữ dạy học, chi phí học tập; (4) Phía cộng đồng, xã hội: Vùng miền, khoảng cách đến trường, chính sách giáo dục, dân tộc. Kế thừa các nghiên cứu trước đây, đề tài này cũng dựa trên 4 nhóm yếu tố vừa nêu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự bỏ học của học sinh ở cấp trung học cơ sở tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Hình 3. Số con trong gia đình Tuổi Tỷ lệ người phụ thuộc Giới Phía Phía Dân tộc Thu nhập đầu người học gia Tham gia lao động sinh Diện tích đất đầu người đình Điểm học tập Cha: tuổi, học vấn, dân tộc Mẹ: tuổi, học vấn, dân tộc Tỷ lệ bỏ học Ngôn ngữ dạy họ Chi phí học tập Phía Phía nhà cộng Chính sách giáo dục Chất lượng giáo viên Quan tâm cộng đồng trường đồng Chất lượng trường lớp Khoảng cách đến trường Hình 3.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh phổ thông cơ sở tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 13 3. Phương pháp thu thập số liệu Để thỏa mãn các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng thông qua việc lược khảo các tài liệu có liên quan, thu thập số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp như trình bày dưới đây.
Thu thập số liệu thứ cấp Nghiên cứu đã thu thập thông tin và số liệu chung về thực trạng giáo dục thông qua các số liệu và báo cáo tổng kết hàng năm của các điểm trường ở các cấp học để tìm hiểu thực trạng học tập, số học sinh trong độ tuổi đi học, số học sinh THCS bỏ học, môi trường sống, kinh tế và xã hội (Phong tục tập quán, văn hoá và lối sống) của học sinh và gia đình học sinh bỏ học và không bỏ học, các nguyên nhân của tình trạng bỏ học của học sinh THCS trong huyện bỏ học từ năm 2011 – 2016. Ngoài ra các tài liệu, các báo cáo về giáo dục, các chính sách giáo dục từ các tổ chức giáo dục, cục thống kê, Ủy ban nhân dân các địa phương và các cơ quan ban ngành có liên quan và các kênh thông tin đại chúng (sách, báo, tạp chí, Internet) và một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài cũng đã được thu thập và phân tích.